ĐẠO ĐỨC – NIỀM TIN – TRÁCH NHIỆM: Sức mạnh tinh thần của kỷ nguyên vươn mình

Trong không khí mùa xuân mới – mùa của khởi đầu, hy vọng và niềm tin – Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng – Xuân 2026 có cuộc trò chuyện đặc biệt với GS.TS. Trương Quốc Bình, nhà nghiên cứu uy tín trong lĩnh vực văn hóa – tôn giáo, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), người vinh dự được Chủ tịch nước trao Huân chương Lao động hạng III. Từ những trải nghiệm sâu sắc trong nghiên cứu và quản lý, Giáo sư chia sẻ những góc nhìn toàn diện về đạo đức, niềm tin và trách nhiệm xã hội – những trụ cột tinh thần đang góp phần kiến tạo “kỷ nguyên vươn mình” của dân tộc Việt Nam trong thời đại hội nhập và chuyển đổi số.

GS. TS. Trương Quốc Bình, Viện nghiên cứu các vấn đề về Tôn giáo và Tín ngưỡng
GS. TS. Trương Quốc Bình.

PV: Thưa Giáo sư, trong không khí xuân mới, Giáo sư đánh giá như thế nào về vai trò của niềm tin, đạo đức và văn hóa – tín ngưỡng đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam hôm nay?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Mỗi độ xuân về, chúng ta lại nhắc đến niềm tin và khát vọng. Đó không chỉ là cảm xúc mang tính mùa vụ, mà thực sự là nguồn năng lượng tinh thần đã đồng hành cùng dân tộc Việt Nam qua bao biến thiên của lịch sử. Niềm tin – khi được đặt trên nền tảng đạo lý, văn hóa và tín ngưỡng – trở thành sức mạnh nội sinh giúp con người Việt Nam vượt qua khó khăn, nuôi dưỡng ý chí vươn lên và hình thành bản lĩnh rất riêng của dân tộc.

chiều dài truyền thống, các hệ giá trị tôn giáo và tín ngưỡng Việt Nam, từ thờ cúng tổ tiên, thờ Mẫu, Phật giáo, Thiên Chúa giáo cho tới các tín ngưỡng dân gian, đều hướng con người về cái thiện, về lòng nhân ái, tri ân và trách nhiệm. Những giá trị này không chỉ tạo khuôn mẫu đạo đức cho cá nhân, mà còn định hình nền tảng văn hóa của cộng đồng, góp phần quan trọng vào việc duy trì sự ổn định, hòa hợp và đoàn kết của xã hội.

Trong thời đại hôm nay, xã hội đổi thay nhanh chóng, nhịp sống gấp gáp, tác động của công nghệ và toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng. Nhưng những giá trị ấy vẫn là phần “gốc rễ tinh thần” – là nơi để con người tìm về sự cân bằng, định hướng và an trú trước những xáo động của thời cuộc. Một xã hội muốn phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào kinh tế hay công nghệ, mà cần phải được nâng đỡ bởi đạo đức, niềm tin và văn hóa. Khi đạo đức được củng cố, niềm tin được nuôi dưỡng và văn hóa tâm linh được phát huy đúng nghĩa, đó sẽ là sức mạnh giúp đất nước bước vào kỷ nguyên mới một cách vững vàng và có bản sắc.

PV: Trải qua nhiều năm nghiên cứu và công tác trong lĩnh vực văn hóa, tôn giáo, môi trường, đâu là điều khiến Giáo sư tâm đắc nhất về mối quan hệ giữa đạo đức, niềm tin tôn giáo và trách nhiệm xã hội?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Tôi cho rằng ba yếu tố này – đạo đức, niềm tin tôn giáo và trách nhiệm xã hội – có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và bổ sung cho nhau một cách bền chặt. Niềm tin tôn giáo, nếu được hiểu đúng bản chất, luôn hướng con người đến cái thiện, đến việc tôn trọng phẩm giá của mình và của người khác. Đạo đức chính là hệ chuẩn mực làm nền tảng cho mọi hành vi. Và trách nhiệm xã hội chính là sự cụ thể hóa của đạo đức trong hành động, là thước đo của việc niềm tin được chuyển hóa thành giá trị sống.

Trong quá trình làm công tác văn hóa – môi trường, tôi cảm nhận rõ rằng những giá trị đạo đức truyền thống của người Việt Nam, như “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”, “uống nước nhớ nguồn”, không chỉ là khẩu hiệu đạo lý mà thực sự là động lực tạo ra những hành vi xã hội tích cực. Những giá trị đó giúp hình thành thái độ sống có trách nhiệm hơn với cộng đồng, với thiên nhiên, với môi trường sống.

Ở một góc độ khác, khi con người có niềm tin tôn giáo trong sáng, có nền tảng đạo đức ổn định, họ sẽ dễ dàng ý thức rõ trách nhiệm của mình đối với xã hội – cho dù đó là trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, giữ gìn văn hóa hay góp phần giải quyết các vấn đề chung của cộng đồng. Và chính sự kết hợp hài hòa giữa niềm tin – đạo đức – trách nhiệm đã trở thành một nguồn lực mềm quan trọng giúp xã hội Việt Nam giữ được sự ổn định, sự nhân ái và khả năng thích ứng trước những biến đổi lớn của thời đại.

PV: Theo Giáo sư, trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế mạnh mẽ, giá trị đạo đức nào của người Việt cần được củng cố và lan tỏa để giữ vững nền tảng tinh thần của cộng đồng?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Chuyển đổi số đang làm thay đổi toàn diện đời sống xã hội: cách chúng ta học, làm việc, giao tiếp và tiếp cận thế giới. Cơ hội nhiều, nhưng rủi ro cũng không ít, nhất là rủi ro về sự xói mòn chuẩn mực đạo đức. Bởi vậy, hơn lúc nào hết, việc nuôi dưỡng và củng cố các giá trị đạo đức truyền thống của người Việt là yêu cầu cấp thiết.

Theo tôi, có ba nhóm giá trị đạo đức cần được đặc biệt đề cao. Thứ nhất là tính trung thực, vì trung thực là nền tảng của lòng tin, mà lòng tin lại chính là “vốn xã hội” vô cùng quan trọng trong thời đại số. Thứ hai là tinh thần trách nhiệm, ý thức được vai trò cá nhân trong cộng đồng, trong công việc và trong tương tác trên không gian mạng. Thứ ba là lòng nhân ái và sự tôn trọng con người, vốn là giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam suốt nghìn năm qua.

Khi những giá trị ấy được giữ gìn và lan tỏa, chúng sẽ giúp con người không bị cuốn vào mặt trái của công nghệ, mà trái lại, biến công nghệ thành công cụ nâng cao đạo đức, tri thức và ý thức công dân trong xã hội hiện đại.

PV: Niềm tin tôn giáo và tín ngưỡng dân gian có thể đóng góp như thế nào cho phát triển bền vững, nhất là trong những vấn đề về môi trường, lối sống xanh và trách nhiệm công dân?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Tôi cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng dân gian của Việt Nam là một kho tàng tri thức và đạo lý, trong đó ẩn chứa nhiều quan niệm tiến bộ về mối quan hệ giữa con người – thiên nhiên – cộng đồng. Không ít tôn giáo lớn trên thế giới khẳng định thiên nhiên là sáng tạo thiêng liêng, cần được tôn trọng và bảo vệ. Nhiều tín ngưỡng bản địa của Việt Nam lại đề cao sự giao hòa giữa con người và tự nhiên, coi vạn vật đều có linh tính, đều đáng được trân trọng.

Chính vì vậy, tôn giáo và tín ngưỡng có thể trở thành nguồn lực quan trọng trong việc nâng cao ý thức sống xanh, sống có trách nhiệm. Các lễ hội, nghi thức đầu xuân, lễ tạ ơn, lễ cầu an không chỉ mang ý nghĩa tâm linh, mà còn truyền tải thông điệp về lòng biết ơn đất trời, sự hài hòa và tiết chế trong tiêu dùng, trong ứng xử với môi trường.

Nếu chúng ta biết khai thác đúng đắn, cộng đồng tôn giáo hoàn toàn có thể tham gia mạnh mẽ vào các hoạt động bảo vệ môi trường, giáo dục lối sống bền vững, lan tỏa tinh thần “sống tốt đời đẹp đạo”, “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Đây chính là đóng góp thiết thực của tôn giáo – tín ngưỡng cho phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu hiện nay.

PV: Trước những biểu hiện thương mại hóa tôn giáo hoặc biến tướng lễ hội, Giáo sư cho rằng đâu là giải pháp căn cơ để bảo đảm tính thiêng, tính văn hóa và sự trong sáng của các giá trị tín ngưỡng Việt Nam?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Thương mại hóa tôn giáo, biến tướng lễ hội là hiện tượng không thể xem thường, vì nó làm suy giảm tính thiêng, làm méo mó giá trị văn hóa và ảnh hưởng đến niềm tin của cộng đồng. Theo quan sát của tôi, để giải quyết tận gốc vấn đề này, cần đến sự phối hợp đồng bộ từ ba phía: Nhà nước – cộng đồng tôn giáo – và chính người dân.

Thứ nhất, cơ quan quản lý Nhà nước cần tăng cường quy hoạch, hướng dẫn, giám sát các hoạt động lễ hội và tôn giáo, đảm bảo đúng truyền thống, đúng bản sắc và đúng mục đích văn hóa – tâm linh. Bên cạnh đó là việc đẩy mạnh truyền thông giáo dục để người dân nhận diện được các biểu hiện lệch chuẩn.

Thứ hai, các tổ chức tôn giáo cần phát huy vai trò tự quản, tự giám sát cộng đồng của mình. Tính thiêng không thể bảo vệ nếu chính những người thực hành tín ngưỡng không ý thức được trách nhiệm gìn giữ truyền thống. Linh mục, sư thầy, chức sắc, thanh đồng… đều có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng cộng đồng.

Thứ ba, từng cá nhân cần nâng cao nhận thức, phân biệt rõ đâu là giá trị văn hóa, đâu là yếu tố mê tín, thực dụng. Khi cộng đồng có hiểu biết đúng, thì những hành vi thương mại hóa mới không còn “đất sống”.

Giữ gìn sự trong sáng của tín ngưỡng Việt không chỉ là nhiệm vụ quản lý, mà là trách nhiệm văn hóa của toàn xã hội.

PV: Nếu gửi một thông điệp đầu xuân đến đội ngũ làm công tác văn hóa – tôn giáo và thế hệ trẻ Việt Nam, Giáo sư muốn nhấn mạnh điều gì về đạo đức, niềm tin và trách nhiệm trong “kỷ nguyên vươn mình” của đất nước?

GS.TS Trương Quốc Bình:

Nếu được gửi một thông điệp đầu xuân, tôi muốn nói rằng: đất nước bước vào một giai đoạn mới với rất nhiều cơ hội, nhưng cũng đầy thử thách. Để đi xa, chúng ta không thể chỉ dựa vào tri thức hay công nghệ, mà trước hết phải dựa vào nền tảng tinh thần – đó là đạo đức, niềm tin và tinh thần trách nhiệm.

Tôi mong đội ngũ làm văn hóa – tôn giáo tiếp tục giữ vững vai trò “người giữ lửa”, lan tỏa những giá trị nhân văn của dân tộc, bảo vệ bản sắc, đấu tranh với cái xấu, cái lệch chuẩn. Văn hóa – tôn giáo không chỉ là ký ức, mà là sức mạnh sống động của hiện tại.

Còn với thế hệ trẻ – những người sẽ quyết định diện mạo đất nước trong 20-30 năm tới – tôi mong các bạn hãy sống tử tế, biết trân trọng truyền thống nhưng cũng sẵn sàng đổi mới và sáng tạo. Hãy dùng tri thức và công nghệ để phụng sự cộng đồng, chứ không phải tách mình khỏi cộng đồng.

Khi đạo đức bền vững, niềm tin sáng rõ và trách nhiệm được đặt lên hàng đầu, tôi tin rằng dân tộc Việt Nam sẽ tiếp tục vươn mình mạnh mẽ, xứng đáng với khát vọng phát triển trong kỷ nguyên mới.

Cuộc trò chuyện đầu xuân với GS.TS Trương Quốc Bình không chỉ đem lại những phân tích sắc sảo về văn hóa, tôn giáo và con người Việt Nam trong thời đại mới, mà còn gợi mở những suy ngẫm sâu xa về nền tảng tinh thần của dân tộc. Trong kỷ nguyên hội nhập và chuyển đổi số, khi nhịp sống thay đổi từng ngày, chính Đạo đức – Niềm tin – Trách nhiệm trở thành “bản lĩnh mềm” giúp xã hội giữ được phương hướng và phẩm giá.

Những giá trị ấy không phải là lý thuyết trừu tượng, mà đang hiện hữu trong từng hành vi, từng lựa chọn, từng mối quan hệ của con người Việt Nam hôm nay. Khi được nuôi dưỡng đúng cách, chúng sẽ tạo thành nguồn lực nội sinh, bồi đắp sức mạnh tinh thần quốc gia và nâng bước dân tộc trên hành trình “vươn mình” mạnh mẽ trong bối cảnh thế giới đầy biến động.

PV: Trân trọng cảm ơn Giáo sư!

Nhất Nam

(Theo Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 1/2026)

Bài viết liên quan