Những giá trị đặc sắc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu – Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và hiện trạng thực hành ở Việt Nam

Mở đầu

Trong kho tàng di sản văn hóa phong phú và đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, các di sản về tín ngưỡng thờ Mẫu có vị trí hết sức quan trọng. Quan trọng vì đây là một trong những truyền thống tâm linh gắn liền với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên từ hàng nghìn năm nay cùng sự phổ cập rộng rãi của tín ngưỡng này trong hầu khắp cộng đồng cư dân Việt Nam ở mọi địa bàn cư trú, từ miền Bắc đến miền Nam, từ nông thôn đồng bằng, nông thôn miền núi đến các thành thị

Quan trọng vì những giá trị đặc sắc của tín ngưỡng thờ Mẫu , vừa là những giá trị văn hóa phi vật thể tiêu biểu, vừa là những giá trị văn hóa vật thể có giá trị không thể phủ nhận về lịch sử, văn hóa, khoa học.

Chính vì vậy chúng tôi hoan nghênh và đánh giá cao việc Viện Tôn giáo Tín ngưỡng tổ chức cuộc Diễn đàn hết sức có ý nghĩa này để góp phần khẳng định và tôn vinh những chân giá trị của Tín ngưỡng thờ Mẫu, một dạng thức tín ngưỡng lâu đời và hết sức phổ biến ở Việt Nam.

Để góp thêm những ý kiến tại cuộc hội thảo này, dưới đây chúng tôi xin phép trình bày một số suy nghĩ bước đầu về việc bảo vệ và phát huy giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu từ những nội dung giá trị đặc sắc của những di sản văn hóa độc đáo này, tập trung vào thực trạng thực hành từ sau khi được vinh danh và đưa vào danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đến nay

GS.TS Trương Quốc Bình

Những giá trị đặc sắc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam

Trong đời sống tâm linh của người Việt Nam, tín ngưỡng thờ cúng những người đã khuất được coi là dạng thức tinh thần hết sức đặc biệt. Dường như mỗi gia đình Việt Nam đều thực hành việc thờ cúng tổ tiên. Mỗi cộng đồng làng xã đều có tập tục thờ Thành Hoàng – được coi là “tổ tiên”chung của làng xóm (gồm các nhân thần tức là những con người có thật, có nhiều công đức với dân, như các anh hùng có công đánh giặc, hoặc những người có công lập ra làng xóm hay truyền nghề …và các thiên thần tức nhân vật tượng trưng cho các thế lực tự nhiên hoặc được người đời tạo ra nhân một sự kiện xã hội, nhân sinh nào đó). Và thậm chí, cả quốc gia dân tộc Việt Nam lại tự coi là có chung một nguồn gốc, để lập nên một ngôi Mộ Tổ chung và đặt ra một ngày Giỗ Tổ chung- Quốc Tổ Hùng vương. Đặc biệt là, bên cạnh những dạng thức tinh thần này, lại có tục thờ Mẫu- một tín ngưỡng dân gian đã tồn tại từ rất lâu đời và rất phổ biến ở Việt Nam.

Tín ngưỡng Thờ Mẫu là một trong những tín ngưỡng dân gian của người Việt. Mẫu, gọi theo tiếng Hán, là Mẹ. Các kết quả nghiên cứu về văn hóa dân gian cho thấy tục thờ Mẫu có từ rất xa xưa khi người Việt tôn thờ các thần linh thiên nhiên, các thần linh này được kết hợp lại trong khái niệm Thánh Mẫu.

Về cơ bản, tín ngưỡng thờ Mẫu là sự tin tưởng, ngưỡng mộ, tôn vinh và thờ phụng những vị nữ thần gắn với các hiện tượng tự nhiên, vũ trụ được người đời cho rằng có chức năng sáng tạo, bảo trợ và che chở cho sự sống của con người (như: trời, đất, sông nước, rừng núi..), những con người cụ thể như thái hậu, hoàng hậu, công chúa… là những người khi sống thì tài giỏi, có công với dân, với nước, khi mất lại hiển linh phù trợ cho người an, vật thịnh.

Rõ ràng là, không phải tình cờ mà ở nước ta, còn có không ít các địa danh gắn với danh xưng “Bà” – một đại từ nhân xưng tôn vinh địa vị của người phụ nữ- như: Núi Bà Mụ, Núi Bà Đen (Tây Ninh), Tháp Bà (Nha Trang), Bà Chúa Xứ (Châu Đốc) Bà Chúa Kho (Bắc Ninh), Bà Thiên Hậu (Hội An), Bà Mụ… hoặc những đại từ khác về phụ nữ như : Cô Hồng, Cô Hạnh, Nữ Hoa, Cửu Thiên huyền Nữ, Thất tinh Nương Nương, Lăng Cô, Dinh Cô, Quan âm Thị Kính, Quốc Mẫu, Thánh Mẫu, Vương Mẫu, Công Chúa…

Như vậy, hầu hết những danh xưng này đều chỉ những hình tượng thể hiện sự tôn sùng của những người phụ nữ Việt, nhưng trong quá trình giao lưu văn hóa gắn liền với quá trình mở mang lãnh thổ của quốc gia dân tộc, đã có sự giao kết, chấp nhận và tiếp thu những ảnh hưởng văn hóa khác. Chính vì vậy, ở mỗi địa phương khác nhau, tín ngưỡng thờ Mẫu có sắc thái riêng. Và cũng chính vì vậy, trong số những hình tượng người phụ nữ được tôn vinh, có Mẫu là người Hoa từ phương Bắc sang, có Mẫu được tiếp thu từ các cư dân Khmer, Chăm, Sán Dìu, Tày – Nùng hoà nhập vào.

Các vị thần trong tín ngưỡng Thánh Mẫu phản ánh các phẩm chất của một người Mẹ vừa thần thánh lại vừa con người. Tục thờ Mẫu và Tam tòa Thánh Mẫu có quan hệ mật thiết với tục thờ Nữ thần.

Tín ngưỡng thờ Mẫu dựa trên một hệ thống vũ trụ luận nguyên sơ, thể hiện ý thức nhân sinh, cội nguồn, dân tộc, lòng yêu nước đã được thiêng liêng hóa mà Mẫu là biểu tượng cao nhất. Mẫu là quyền năng sáng tạo vũ trụ duy nhất và hóa thân thành Tam vị, Tứ vị cai quản các cõi các miền khác nhau của vũ trụ như Mẫu Thiên, Mẫu Địa, Mẫu Thoải (Thủy), Mẫu Thượng Ngàn.

Theo thời gian, khái niệm Thánh Mẫu được mở rộng bao hàm các nữ anh hùng trong dân gian – những người phụ nữ có thật trong lịch sử với vai trò người bảo hộ, giúp đỡ, che chở hoặc trị bệnh. Những nhân vật lịch sử này được kính trọng, tôn thờ và cuối cùng được thần thánh hóa để thành một trong các hiện thân của Thánh Mẫu được tôn vinh với các chức vị: Thánh Mẫu (như Thánh Mẫu Liễu Hạnh… Chúa Xứ Thánh Mẫu, Linh Sơn Thánh Mẫu, Thượng Ngàn Thánh Mẫu…), Quốc Mẫu (như Quốc Mẫu Âu Cơ, Quốc Mẫu Tây Thiên…), Vương Mẫu (như người mẹ của Thánh Gióng được tôn vinh .  Trải qua qua trình lịch sử, do ảnh hưởng của Đạo giáo Trung Quốc, tín ngưỡng thờ Mẫu ở nước ta đã phát triển hình thành tín ngưỡng Tam phủ (Thiên phủ – miền trời, Nhạc phủ – miền rừng núi, Thuỷ/ Thoải phủ – miền sông nước), Tứ phủ (ba phủ trên có thêm Địa phủ – miền đất đai).

Nghi lễ phổ biến nhất trong tín ngưỡng Thánh Mẫu là hầu đồng. Trong nghi lễ này, người ta tin rằng các vị thần sẽ nhập vào người lên đồng, và nghe những lời cầu nguyện của người dự lễ. Các điệu múa linh thiêng (giá đồng) là một phần quan trọng của nghi lễ. Có giá các Quan lớn, giá Thánh bà, giá các Cậu, giá các Cô v.v…

Trong buổi lễ, các giá đồng được biểu diễn cùng với hát chầu văn. Chầu văn tạo nên một khung cảnh âm nhạc và tâm linh giúp cho người ngồi đồng nhập vào vai mới để liên thông, trao truyền các thông điệp giữa các thần linh với con người. Như vậy, cho đến nay, có thể khẳng định rằng, tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đã, đang và vẫn là những biểu chứng sinh động về giá trị văn hóa phi vật thể trong những không gian văn hóa vật thể cụ thể.

Dường như, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, và các khu vưc ven biển, người dân Việt Nam dù giàu nghèo, sang hèn đều luôn tri ân, tôn vinh các Mẫu, thờ cúng Mẫu , coi đó là hồn của đất, là sông suối ao hồ, là cơm gạo ngô khoai, là cây rừng che phủ, là hoa trái bốn mùa tốt tươi, là sự bảo trợ cho thuyền êm biển lặng. Và, có thể nói, trên toàn cõi Việt Nam, có khá nhiều công trình thờ Mẫu ở những quy mô khác nhau. Chính vì thế mà có thể khẳng định rằng, cho đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu từ hàng ngàn năm trước vẫn tồn tại, vẫn được công đồng dân cư gồm hàng triệu người Việt Nam trên mọi miền đất nước chấp nhận.

Sự phổ biến của Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam

Dường như, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, và các khu vưc ven biển, người dân Việt Nam dù giàu nghèo, sang hèn đều luôn tri ân, tôn vinh các Mẫu, thờ cúng Mẫu , coi đó là hồn của đất, là sông suối ao hồ, là cơm gạo ngô khoai, là cây rừng che phủ, là hoa trái bốn mùa tốt tươi, là sự bảo trợ cho thuyền êm biển lặng. Và, có thể nói, trên toàn cõi Việt Nam, có khá nhiều công trình thờ Mẫu ở những quy mô khác nhau. Chính vì thế mà có thể khẳng định rằng, cho đến nay, tín ngưỡng thờ Mẫu từ hàng ngàn năm trước vẫn tồn tại, vẫn được công đồng dân cư gồm hàng triệu người Việt Nam trên mọi miền đất nước chấp nhận.

Để tôn vinh và thực thi những tín ngưỡng nhằm tôn thờ các Mẫu, nhiều công trình chuyên biệt đã được lập nên như Đền, Miếu, Phủ. Tuy nhiên, cùng với thời gian, nhiều công trình thờ cúng khác như chùa thờ Phật ở hầu khắp các làng xã Bắc bộ đều có ban thờ Mẫu.

Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh, lan tỏa và được thực hành ở nhiều địa phương trong cả nước. Sự phổ biến này chứng minh sự phổ cập sâu rộng của tín ngưỡng này ở Việt Nam . Dưới đây là các trung tâm thờ mẫu tiêu biểu:

Hà Nội: có 1014 di tích thờ Mẫu và 886 điện tư gia, tiêu biểu như: Phủ Tây Hồ, Đền Quan Tam Phủ, đền Rừng, đền Lừ, đền Sét, đền An Thọ, đền Bà Kiệu, đền Liên Hoa, đền Lưu Phái, Minh Ngự Lâu (Thanh Trì), cụm đền Đại Lộ, đền Sở, đền Dầm (Thường Tín), Đền Sòng Vọng.

Ninh Bình: có 415 di tích lịch sử văn hóa thờ và phối thờ Mẫu,[5] tiêu biểu như: Đền Dâu, đền Quán Cháo, phủ Đồi Ngang, phủ Sòng Xanh, phủ Châu Sơn, đền Cô Đôi Thượng Ngàn, đền Vân Thị, đền Sầy, chùa Bái Đính cổ, đền Quèn Thạch, đền Thung Lá, đền Mẫu Thượng…

Nam Định: có 352 di tích lịch sử – văn hoá thờ và phối thờ Mẫu; trong đó có 220 phủ, 16 miếu, 72 chùa phối thờ, 44 đền, đình thờ chung với thành hoàng làng, tiêu biểu như Phủ Dầy (huyện Vụ Bản), Phủ Quảng Cung (Xã Yên Đồng, huyện Ý Yên), Phủ Nấp.

Hà Nam: có 185 di tích thờ Mẫu, tiêu biểu như: Đền Lảnh Giang (Duy Tiên), đền Bà Vũ, đền Mẫu Cửu Tỉnh, miếu Bà Đặng Xá, miếu Hạ Đồng Lạc.

Thái Bình: Đền Đồng Bằng thờ Vua Cha Bát Hải, Đền Hưng Long thờ Quan Hoàng Bơ, Đền Thánh Mẫu thờ Đinh Triều Hoàng Hậu.

Hải Dương: Đền Đoan (Ninh Giang), Đền thờ quan Tuần Tranh, đền cổ Đông Giang Linh Từ (Trương Mỹ – TPHD), đền mẫu Kinh Câu (Tứ Kỳ) và đền Mẫu Sinh, đền Gốm, đền Dím, đền Cối Xuyên.

Hưng Yên: Đền Mẫu Hưng Yên, đền Thiên Hậu, đền Ghênh Văn Lâm, đền Bảo Châu, đền Mẫu Ba Đông, Đền Xích Đằng, Đền Đậu An…

Hải Phòng: Phủ Thượng Đoạn, Đền Phú Xá, Đền Tiên Nga (Lê Lợi) , Đền Đông Cuông Đồng Lùn , Đền Long Sơn- Cô Chín Suối Rồng, Đền Tiên Nga, Đền Tam Kỳ, Đền Nghè , Đền Mẫu Vừng , Đền Hoành Sơn , Đền Cây Cậy , …

Vĩnh Phúc: có 60 điểm tín ngưỡng thờ Mẫu như: Đền thờ Quốc Mẫu Tây Thiên, Đền Chân Suối, Đền bà chúa thượng ngàn, Đền chúa Mán -Đông Hội, Đền Thanh Lanh.

Bắc Giang: Đền Công Đồng Suối Mỡ, đền Từ Mận, đền Đà Hy, đền Phủ, đền Má, đền Bà Chúa kho thanh bình, Phủ doãn, điện Sơn linh, đền Chúa nguyệt hồ, phủ Bắc hà, đền Cô Chín thượng, đền Ông Hoàng Bảy thượng thiên,

Phú Thọ: Đền Tam Giang, Đền thờ Tam tòa Thánh Mẫu.

Lạng Sơn: Đền Mẫu Sơn, Đền Công Đồng Bắc Lệ, Đền Mẫu Đồng Đăng, đền Mẫu Thượng Ngàn, Đền Suối Lân, Đền Giám Sát, Đền Chầu Lục, Đền Đồng Mỏ, Đền Đèo Kẻng, Đền Suối Ngang, Đền Chúa Cà Phê, Đền Kỳ Cùng.

Hòa Bình: Đền Bồng Lai, đền Mẫu Thác Bờ, đền đầm đa.

Lào Cai: Đền Bảo Hà, Đền Cô Tân An, đền Đôi cô Cam Đường

Yên Bái: Đền Đông Cuông, Đền Tuần Quán.

Tuyên Quang: đền Ghềnh Quýt, đền Pha Lô, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mẫu Ỷ La, đền Lương Quán, đền Mỏ Than, đền Lâm Sơn, đền Quang Kiều, đền Cấm, đền Ba Khuôn và đền Minh Lương.

Thanh Hóa: Đền Sòng Sơn, Đền Chín Giếng, Đền Phố Cát, Đền Rồng, Đền Nước, Đền Phủ Mỗ, Đền Mẫu Phong Mục, Đền Hàn Sơn, Đền Cây Thị, Phủ Día, Đền Ba Bông,…

Nghệ An: Đền Ông Hoàng Mười, Đền Cờn thờ ông Hoàng Chín, đền Hồng Sơn, đền Cửa, đền Ngọc Điền, đền Pu Nhạ Thầu.

Hà Tĩnh: Đền Ông Hoàng Mười, đền Nước Lạt, Miếu Chai (Thạch Đài), đền Văn Sơn (Thạch Đỉnh).

Thừa Thiên Huế: Điện Hòn Chén.

Thành phố Hồ Chí Minh: Đền Mẫu, đền Đằng Giang, đền Chầu Lục, Đền chầu mười, Đền Sòng Sơn.

Sau khi tín ngưỡng văn hóa thờ Mẫu đã được nhà nước ta công nhận là Văn hóa phi vật thể của quốc gia. trên cơ sở hồ sơ đề cử của Chính phủ Việt Nam, ngày 1/12/2016, tại Phiên họp Ủy ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia, di sản “Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đã chính thức được UNESCO ghi danh tại Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

Thực trang hoạt động Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay

Những năm qua, đặc biệt là từ sau khi hực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, di sản này đã khẳng định sức sống bền vững, có sức lan tỏa mạnh thông qua nỗ lực bảo tồn, phát huy giá trị của cộng đồng. Trên địa bàn các địa phương trong toàn quốc, các hoạt động thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ nói chung và đặc biệt là Hầu đồng đã và đang diễn ra rất sôi động, thu hút và đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của quảng đại quần chúng nhân dân và đông đảo du khách ở trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, bên cạnh những hiệu quả không nhỏ về đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh và phát triển du lịch,các hoạt động thực hành di sản này cũng bộc lộ những tồn tại và hạn chế cần sớm được hạn chế và điều chỉnh. Đó là:

Từ vài chục năm trước, các hầu đồng chỉ diễn ra trong hệ thống các di tích thờ thánh Trần, thánh Mẫu ở Quảng Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Nam Định, và đền thờ vua cha Bát Hải (Thái Bình). Nhưng từ sau đổi mới, nhất là những năm gần đây hầu đồng diễn ra khá sôi nổi ở hầu khắp các di tích lịch sử văn hóa. Các canh hầu không chỉ được tổ chức ở những đền thờ Thánh nữa mà mở rộng cả ở các đình, chùa. Sự phát triển mạnh mẽ của hầu đồng với mật độ gia tăng cả về số lượng người gia đồng tại các địa phương đã kéo theo tình trạng các chùa đua nhau xây thêm phủ Mẫu, đăc biệt là các từ năm 1996 đến 2000 trở lại đây.

Theo thống kê, chỉ riêng ở Hà Nội cũng đã có hàng loạt các di tích có điện Mẫu và tổ chức hầu đồng: Đền Ba Cây, đền Đầm Sen (Hoàng Mai); đền Dâu, đền Cây Xanh, đền Lý Quốc Sư, đền Hưng Nghĩa (Hoàn Kiếm); đền Hai Bà, đền Lương Yên (Hai Bà Trưng); đền Ngọc Hà (Ba Đình); chùa Bộc, đền Bích Câu (Đống Đa); phủ Tây Hồ, đền Nghĩa Dũng (Tây Hồ); đền, chùa Bà Tấm, đền Dầm, đền Sở (Gia Lâm)… đó là chưa kể đến hệ thống các điện tư gia ngày một nhiều nằm lẫn trong hàng nghìn khu dân cư của Hà Nội.

Đáng luu ý là, có không ít các cơ sở di tích, điện thờ thánh công – tư đã và đang chuyển hóa từ vị thế là những không gian thực hành hoạt động tâm linh sang thành những cơ sở dịch vụ tâm linh và vận hành theo cơ chế kinh tế thị trường.

Hầu đồng bây giờ không nhất thiết phải cố định vào dịp nào nữa mà đã diễn ra theo phổ rộng và rải đều trong năm. Theo báo cáo của cơ quan quản lý văn hóa phòng nghiên cứu văn hóa Huyện Vụ Bản thì hằng năm tại cơ sở di tích quần thể phủ Giầy có tới khoảng 500 canh hầu/ một di tích. Tuy nhiên khi khảo sát điều tra thực tế tại phủ Tiên Hương (phủ chính) và căn cứ vào tài liệu ghi chép của thủ nhang tại phủ, chỉ tính riêng trong một năm các bản hội và cá nhân đăng ký hầu tại phủ, con số đã lên tới 1.288 canh hầu, tập trung cao nhất là vào dịp đầu năm từ tháng 1 đến tháng 3. Trong số những canh hầu kể trên thì tỷ lệ những canh hầu của người Hà Nội là đông hơn cả, chiếm tới 350 lượt; Bắc Ninh 108; Quảng Ninh 14; Hải phòng 20 còn lại là các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hà Nam, Ninh Bình, Nam Định, Miền Nam (1). Mật độ hầu trong năm tập trung chủ yếu vào ba tháng đầu năm từ tháng giêng đến tháng 3 âm lịch.

Cùng với sự tăng cường về tần xuất các canh hầu đồng thì tính chất và hình thức các cuộc hầu cũng khá đa dạng và phong phú với nhiều tên gọi khác nhau: hầu trình (hầu trình diện cửa thánh trong dịp lễ hội), hầu khai điện (hầu đầu năm mới), hầu tạ (hầu vào cuối năm để tạ ơn thần thánh), hầu mừng đồng (tổ chức một đại lễ hầu mừng cho căn đồng đã qua một giai đoạn thử thách dài – 9 năm), hầu tiễn căn (để di cung bán số tiễn đi căn mạng, duyên nợ của một người có căn đồng nhưng không muốn gia đồng, vì thế còn được gọi là hầu trả nợ Tứ phủ), hầu trình đồng (tổ chức hầu đồng để một người có thể thành đệ tử (ghế) của thần linh). Mặc dù có nhiều tên gọi khác nhausong quá trình thâm nhập các bản hội của các căn đồng, chúng tôi nhận thấy về cơ bản đều được tổ chức dưới 3 hình thức chính là hầu trình trầu, hầu vui và hầu chứng đàn.

Bên cạnh đó, việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu khá tùy tiện, không chỉ diễn ra ở đền, phủ thờ Mẫu mà cả ở đình thờ Thành hoàng, thờ danh nhân, nơi chùa chiền thờ phật…và thậm chí người ta còn tổ chức hầu đồng tại những không gian công công công hoàn toàn xa rời với không gian tâm linh như tại đám cưới , chợ dân sinh.

Đáng lưu ý là, bên cạnh những thanh đồng chân chính đang thực hành và truyền dạy những chuẩn mực truyền thống của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu thì cũng còn một bộ phận những thanh đồng trong quá trình thực hành tín ngưỡng đã có những hành vi gây nên những ảnh hưởng tiêu cực, làm xấu đi nét đẹp văn hóa tâm linh của tín ngưỡng thờ Mẫu, làm ảnh hưởng không tốt đến cộng đồng và xã hội. Đó là:

-Trang phục hầu đồng của nhiều người rất “kỳ quái, dị hợm”, có người sử dụng khăn áo kiểu “Từ hy Thái hậu”!, có người mặc áo có vạt sau dài đến 3 – 4 m, tay áo thụng tới hàng mét giống như y phục của các đạo sĩ.

– Có người đội những búi tóc độn tóc giả cao chót vót xoắn hình trôn ốc, hay những chiếc mũ cánh chuồn không ra văn quan, cũng chẳng ra võ tướng, thậm chí, có trường hợp mặc cả áo rằn ri, đi giầy tây, đội mũ tai bèo, đội mũ bảo hiểm…

Lễ vật tiến cúng trước đây chỉ là hương, hoa, đăng, trà, quả, nhưng nay có cả quạt điện, nồi cơm điện, phích nước, chăn bông làm đồ phát lộc, tạo sự vật chất hóa vật phẩm lục cúng và làm mất đi những nét đẹp tâm linh cao quý.

– Có thanh đồng còn tự bày ra hầu những giá đồng mà từ xưa không có cụ đồng nào hầu như hầu Thánh Mẫu, hầu Ngọc Hoàng, hầu Chầu Quế Chầu Quỳnh, hầu Đức Chúa công… khiến cung văn không biết bài nào để hát.

– Về cơ bản, vũ đạo trong hầu đồng mang nặng tính biểu diễn tượng trưng , nhưng có thanh đồng đã lôi kéo cả người dự hầu nhảy điên loạn như trên vũ trường, làm mất hết sự trang nghiêm tôn kính… rồi tranh cướp lộc hỗn loạn tạo ra những hình ảnh phản cảm. Một số thanh đồng muốn phô trương sự giàu sang, mà mỗi vấn hầu lên đến hàng tỷ, vàng mã đốt quá nhiều, vô cùng lãng phí.

Đồng thời, có thanh đồng có những lời truyền phán mang nặng tính trách phạt, dọa nạt trần tục, gây tâm lý lo sợ, hoang mang, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm đảo lộn cuộc sống sinh hoạt của mọi người, gây mất đoàn kết trong gia đình, xã hội.

– Trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu, chầu văn có vai trò quan trọng trong việc tạo nên một khung cảnh âm nhạc tâm linh giúp cho người ngồi đồng nhập vào vai mới để liên thông, trao truyền các thông điệp giữa các thần linh với con người. Ngày nay, nhiều ban cung văn có sự tham gia của các nghệ sĩ chuyên nghiệp từ các đoàn chèo, cơ quan văn hoá, nghệ thuật, những người có tâm hướng về tín ngưỡng, đồng thời, cũng được xem là cách gia tăng thu nhập.

Trong thời gian gần đây, nhiều đoàn văn không còn giữ được chất giọng nguyên vẹn như trước, thay vào đó là sự kết hợp với chèo, cải lương,…

Chính vì vậy bên cạnh những cung văn hát rất hay góp phần xứng đáng vào những hiệu quả của các nghi lễ hầu đồng thì âm nhạc trong hầu đồng tại một số nơi cũng có những biến tướng văn “đạo lời văn”, “chế văn”, khiến các buổi hầu đồng trở nên sôi động, mới mẻ. Nhiều cung văn còn đưa cả âm nhạc múa sạp Tây Bắc, ca khúc “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”,” Hoa Champa”, “Em đi chùa Hương”, thậm chí cả “Tiến quân ca”, rồi “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” vào trong giá đồng… tạo nên sự phản cảm làm giảm đi những giá trị truyền thống của thực hành tín ngưỡng đặc sắc này. Về trang phục, trước kia, cung văn thường mặc áo the khăn xếp. Ngày nay, ít đoàn giữ được điều này, thay vào đó là trang phục hiện đại, thậm chí là áo phông không cổ và quần jean (bò).

Thực tế cho thấy, những chục năm trở lại đây, cộng đồng và các nhà quản lý văn hóa các cấp đã và đang có nhận thức mới về tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam đặc biệt là từ sau tháng 12 năm 2016 sau khi UNESCO ghi danh Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt vào Danh sách Di sản văn hóa Phi vật thể đại diện của nhân loại. Cũng từ đây, việc quan tâm nghiên cứu di sản văn hóa độc đáo này đã thu hút trí tuệ và tâm thức của giới khoa học, chính quyền và đội ngũ quản lý văn hóa cũng như một bộ phận lớn cộng đồng dân chúng, tạo nên làn sóng phát triển khá mạnh của tín ngưỡng văn hóa mang tầm nhân loại này tại hàng chục tỉnh. thành trên phạm vi cả nước. Dường như đã và đang có sự nhận thức về đạo Mẫu và tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt đồng nhất với vai trò chủ điện thờ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam/Tứ phủ ở châu thổ Bắc Bộ.

Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ chứa đựng những giá trị lịch sử, truyền thống, đạo đức và nghệ thuật đặc sắc. Trong cung cách thực hành đó, luôn ẩn chứa tâm thức “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục truyền thống yêu nước, tôn vinh những người có công với nước, đề cao vai trò của người phụ nữ, tinh thần hòa hợp dân tộc cũng như thể hiện những sáng tạo văn hóa, nghệ thuật độc đáo gắn với thực hành nghi lễ. Tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ đã trở thành một biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, trong đó Người Mẹ – Mẫu là nhân vật trung tâm.

Một dân tộc đã lựa chọn hình tượng Mẹ – Mẫu để tôn vinh, phụng thờ và kỷ thác vào đó niềm tin của mình là một dân tộc có chiều sâu văn hóa, có bề dày văn hiến, có chiều cao văn minh.Đó chính là những giá trị nhân văn, giá trị đạo đức và giá trị truyền thống đặc sắc của văn hóa Việt Nam. Đây thực sự là một di sản văn hóa quý báu được trao truyền từ quá khứ cần được tôn trọng, giữ gìn và phát huy trong đời sống đương đại. Việc kế thừa và khai thác các giá trị của Tín ngưỡng Thờ Mẫu cũng chính là góp phần cùng cố và tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc trong giao lưu văn hóa và hội nhập quốc tế.

Tuy nhiên,thực trạng hoạt động thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, bên cạnh những hiệu quả không thể phủ nhận, vẫn còn không ít những hành vi và hiện tượng tiêu cực làm sai lệch những giá trị truyền thống của di sản văn hóa đặc sắc này.

Theo chúng tôi, để chấn chỉnh uốn nắn những hiện tượng tiêu cực này cần có những giải pháp đồng bộ, những chính sách kịp thời nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, tránh sa vào trạng thái cực đoan: Hoặc cấm đoán, quản lý quá cứng nhắc như trong thời kỳ quá khứ, hoặc lại quá buông lỏng, để tự do phát triển, dẫn tới tình trạng trần tục hóa, thương mại hóa làm sai lệch bản chất của di sản.

tôi kiến nghị các cơ quan quản lý chuyên ngành của Nhà nước các câp cần đẩy mạnh việc hướng dẫn và kiển tra việc thực hiện các hoạt động thực hành tín ngưỡng Thờ Mẫu hiện nay ở Việt Nam theo những quy định hiện hành của Luật Di sản văn hóa và Luật Tôn giáo tín ngưỡng nhằm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa như cam kết của Chính phủ Việt Nam trong hồ sơ đề cử di sản này..

Chúng tôi hy vọng và tin tưởng rằng, cuộc Diễn đàn khoa học này sẽ góp phần không nhỏ vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị của Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt nói riêng và bảo tồn kho tàng di sản văn hóa Việt Nam nói chung./.

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO:

-Trương Quốc Bình (2010) “Kiến nghị đưa Tín ngưỡng Đạo Mẫu Việt Nam vào Danh sách Di sản Thế giới “ Tham luận tại Hội thảo khoa học “Quốc Mẫu Tây thiên Vĩnh Phúc trong Đạo Mẫu Việt Nam” do UBND tỉnh Vĩnh Phúc tổ chức tại Thiền viện Tây Thiên, Tam Đảo ngày 26/3/2010 .

-Trương Quốc Bình (2014) “Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”, NXB VHDT, 2014

-Trương Quốc Bình (2016) “Phát huy những giá trị đặc sắc của Tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam, một di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của nhân loại “Tham luận tại Hội thảo quốc tế “Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (Trường hợp Tín ngưỡng thờ Mẫu)” do Bộ Văn há THể thao và Du lịch phối hợp với UBND tỉnh Nam Định tổ chức năm 2016

– Trương Quốc Bình (2016) “Bảo tồn kho tàng di sản văn hóa dân tộc”, NXB VHDT, 2016

-Trương Quốc Bình(2018) “Biểu tượng Ông Hoàng Mười xứ Nghệ- nét đặc sắc của Di sản Tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam” Tham luận tại Hội thảo khoa học “Nghiên cứu bảo tồn các di sản về Ông Hoàng Mười xứ Nghệ “do Viện Nghiên cứu Truyền thông Văn hóa dân tộc và Sở VHTTDL Nghệ An tổ chức tại Hà Nội , 2018.

-Trương Quốc Bình(2023) “Việc tôn vinh các danh nhân Trần triều trong những hoạt động bảo tôn di sản văn hóa tại Quảng Ninh” Tham luận tại Diễn đàn “Trần Triều với thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu trong xã hội đương đại”do Viện Phát triển Văn hóa Dân tộc phối kết hợp với Hội Giáo dục chăm sóc sức khỏe cộng đồng Việt Nam tổ chức tại TP Hạ Long, Quảng Ninh tháng 8/2023

-Trương Quốc Bình(2025) “Thực trạng Thực hành Tín ngưỡng Thờ Mẫu ở Việt Nam từ sau ngày được UNESCO ghi danh là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại” (Tham luận tại Hội thảo “Bảo tồn và phát huy giá trị di tích Phủ Bóng (Nguyệt Du cung) trong quần thể di tích Phủ Dầy và hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam” do Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển (Đại học Quốc gia Hà Nội) tổ chức tại Nam Định, quý II, 2025)

-Ngọc Hà “Du lịch tâm linh vànhững vấn đềcần quan tâm “Tạp chíCông tác Tôn giáo số7/2019

-Nguyễn Thị Hiền (2016), “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ từ góc độ xuyên quốc gia”, Báo cáo Hội thảo quốc tế: Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) tại Nam Định, ngày 5-6/1/2016.

-Từ Thị Loan (2016), “Lên đồng và vấn đề sức sống của di sản trong xã hội đương đại”, Báo cáo Hội thảo quốc tế: Nghiên cứu thực hành tín ngưỡng trong xã hội đương đại (trường hợp tín ngưỡng thờ Mẫu) tại Nam Định, ngày 5-6/1/2016.

-Ngô Đức Thịnh (2009), “Đạo Mẫu Việt Nam”, 2 tập, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

-Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2012), “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam”, Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh.

GS.TS. TRƯƠNG QUỐC BÌNH

Viện Văn hóa Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam

Nguyên Phó Cục trưởng Cục Di sản văn hóa

(Theo Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 1/2025)

Bài viết liên quan