NNƯT Nguyễn Văn Được: 40 năm phụng sự Tiên Thánh

Xuân về trên mái đền Phú Hưng (Văn Lâm, Hưng Yên). Hương trầm quyện trong nắng mới, gió se khẽ lùa qua những hàng cây, khiến lòng người chợt lắng lại giữa nhịp giao mùa. Có những nơi, chỉ cần bước chân qua cổng tam quan, ta tự nhiên biết mình phải nói khẽ, đi chậm, và nghĩ sâu hơn. Đền Phú Hưng những ngày giáp Tết là một không gian như thế.

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Được năm nay gần sáu mươi tuổi, ở độ chín của đời người và hành đạo. Dáng người tầm thước, phong thái điềm đạm, ánh mắt sáng và tĩnh, ông toát lên vẻ mực thước của người đã gắn bó lâu dài với cửa Thánh mà vẫn giữ trọn sự gần gũi với đời thường. Ít nói, sống giản dị, nhưng trong từng lời chia sẻ đều cho thấy một nhân cách vững vàng, khiêm cung và nhất quán: giữ đạo bằng tâm sáng, hành đạo bằng trí thông, không phô trương hình thức, không thỏa hiệp với những biểu hiện lệch chuẩn của tín ngưỡng.

Giữ đạo bằng “tâm sáng – trí thông”, hoằng dương bằng văn hóa Việt

Trong làn khói hương mỏng mà dai, câu chuyện về Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Được – Thủ nhang đền Phú Hưng hiện lên như một mạch nguồn bền bỉ. Bốn mươi năm phụng sự Tiên Thánh, ông lặng lẽ giữ đạo bằng tâm sáng, trí thông; hoằng dương tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ bằng văn hóa Việt, để mỗi mùa Xuân về, đạo vẫn sáng, đời vẫn bền trong lòng bách gia.

Ông nhìn lên mái ngói rêu phong, giọng chậm rãi, như nói với chính mình nhiều hơn là nói với người đối diện: “Ở cửa Thánh, tôi hay có cảm giác thời gian trôi chậm. Chuông mõ, khói hương… không chỉ để gọi sự an tĩnh, mà như khơi lại ký ức. Người ta đến lễ đầu năm, còn tôi thì mỗi độ Xuân về lại thấy một chặng đường dài hiện ra. Không phải một vài mùa lễ hội đâu, mà là bốn mươi năm vun bồi đạo hạnh, đi qua đủ thăng trầm của đời người, của thời cuộc, và cả những đổi thay trong chính lòng mình”.

Những ngày Xuân, khi lễ vật được dâng tiến trên ban thờ, tiếng chuông ngân hòa cùng tiếng chân khách thập phương, ông lại nhắc một điều giản dị mà nghiêm:

“Giữ đạo, nhiều khi bắt đầu từ việc giữ nếp nhà, giữ lòng thành và giữ sự tỉnh táo. Cái thiêng muốn trao truyền đúng mạch thì người hành đạo phải tự giữ mình trước”.

Ở cửa Thánh, có những lời nghe tưởng như “đơn giản”, nhưng lại chính là nền tảng. Bởi giữ đạo không chỉ là làm lễ cho đủ bài bản; giữ đạo là giữ một chuẩn mực để cái thiêng không bị kéo lệch bởi những cơn sóng đời, bởi danh lợi, bởi thị hiếu nhất thời.

NNƯT Nguyễn Văn Được Viện nghiên cứu các vấn đề về tôn giáo và tín ngưỡng
NNƯT Nguyễn Văn Được phụng sự việc Thánh

Những bước chân “mười mấy tuổi” đến lời thề phụng sự trọn đời

Ông kể về những ngày đầu theo Thánh bằng giọng vừa thật thà vừa thấm:

“Tôi theo Thánh từ sớm lắm. Mười mấy tuổi, gần hai mươi đã đi Hầu Thánh. Ngày ấy nghèo, sắm lễ Sơn Trang đâu có sẵn như bây giờ. Nhiều hôm tôi tự đi mò cua bắt ốc, gom góp từng chút để sắm lễ. Lễ Sơn Trang đơn sơ thôi, nhưng mình làm bằng cái tâm”.

Trong ký ức ấy, không có ánh đèn sân khấu, không có những bộ khăn áo cầu kỳ, càng không có “dịch vụ” như thời nay. Chỉ có sự tương trợ và lòng thành.

“Hồi đó làm gì có đội hát văn chuyên nghiệp, khăn áo cũng chẳng cầu kỳ. Người nọ giúp người kia. Ai biết việc gì thì làm việc nấy. Có những thứ bây giờ nhìn lại tưởng nhỏ, nhưng chính nó giữ đạo cho mình: tương trợ nhau, nâng nhau mà đi”.

Ông dừng một nhịp, têm miếng trầu rồi nói như một câu “đinh”, như thể đã khắc vào đường đời phụng sự: “Thánh không hưởng lễ vật đâu. Thánh chứng cái tâm. Tôi vẫn nói vậy. Quan niệm ấy theo tôi suốt đời: làm đạo không vì danh, không vì lợi, không chạy theo phô trương”.

Nhắc đến giai đoạn đầu, ông không giấu sự gian khó: “Hồi ấy còn nhiều ràng buộc, nhiều định kiến. Người trẻ như tôi có những thứ chưa từng được nhìn thấy, chưa hình dung đầy đủ về nghi lễ. Thực hành kín đáo, thiếu người, thiếu điều kiện. Nhưng chính trong cái khó ấy, mình học được điều quan trọng: đi đạo bằng cái tâm; làm việc đền phủ bằng tinh thần tương trợ; giữ kỷ cương đạo trường từ những việc nhỏ nhất”.

Ông khẽ cười, cái cười của người đi qua đủ gập ghềnh mà vẫn giữ được giọng điềm tĩnh: “Nếu nói bốn mươi năm là một đường dài, thì tôi đi từ nền tảng tự lực, khổ luyện. Rồi từng bước, từng việc, đến lúc gánh trách nhiệm thủ nhang. Giữ nếp thờ tự đã khó; hoằng dương lại càng phải cẩn trọng. Mình đi đường dài thì phải bền”.

10 năm – mộc mạc mà thành kính (1995)

Ông nhìn ra sân đền, như thấy lại một mùa lễ cũ: “Năm 1995, tròn mười năm phụng sự Tiên Thánh, tôi làm lễ kỷ niệm. Mộc mạc thôi, nhưng thành kính lắm. Tôi vẫn nhớ tiếng chuông câu kinh hôm ấy. Nó vang mà ấm. Lòng tôi khi đó sáng bừng lên một niềm tin bền chặt”.

Mười năm đầu – với ông – không phải để “khoe một chặng đường”, mà để tự kiểm lại cái nền mình đặt: nền của lòng thành, của khiêm cung, của nếp đạo.

Ông nói nhỏ, nhưng rành rọt: “Mười năm đầu là thời gian mình “đặt nền”. Nền ở đây không phải tiền bạc, không phải hình thức. Nền là tôn kính Tổ tiên – Tiên Thánh, biết giữ lễ, giữ đạo, và giữ sự khiêm cung trước cái thiêng”.

Ông nhấn mạnh chữ “mộc mạc” như một nguyên tắc: “Mộc mạc không có nghĩa là thiếu. Mộc mạc là vì mình không phô trương. Hồi đó đồng tiền chỉ vài xu vài hào, lễ vật đơn sơ. Nhưng tôi luôn nói: Thánh không ăn cái lễ. Lễ là thể hiện cái tâm. Chính cái nghĩ ấy giữ cho tôi cách làm đạo nghiêm cẩn: không chạy theo hình thức, không thương mại hóa, không biến nghi lễ thành chỗ khoe khoang”.

20 năm – nén hương của lời hứa (2005)

Giọng ông trầm hơn khi nói về mốc hai mươi năm: “Năm 2005, tròn hai mươi năm hành đạo. Nén hương dâng lên hôm ấy không chỉ là tạ ơn. Nó là lời hứa. Hứa với Tiên Thánh rằng tôi sẽ gìn giữ, phát huy, truyền đời cho con cháu mai sau.”

Ông kể, như đang tự kiểm điểm với chính mình: “Đi được hai mươi năm rồi, mình không còn hỏi “mình được gì” nữa. Mình hỏi “mình để lại gì”. Để lại nếp đạo, kỷ cương, chuẩn mực văn hóa. Người thủ nhang không chỉ hương khói, mà phải giữ tri thức thực hành: nghi lễ, trang phục, lời văn, âm nhạc, và cả cách ứng xử đạo – đời. Tôi làm được gì thì cố làm, để di sản không chỉ còn, mà phải đúng”.

Trong không khí Tết, người ta thường nói với nhau hai chữ “bình an”. Nhưng với người hành đạo, bình an còn là sự “đúng mạch”, “đúng đường” – để cái thiêng không bị bẻ lái sang mê tín, không bị trôi sang vụ lợi.

30 năm – cột mốc thiêng và “thời kỳ hưng long” (2015 – 2016)

Khi nhắc tới 30 năm, ánh mắt ông sáng lên, nhưng giọng vẫn chừng mực: “Năm 2015 tròn ba mươi năm thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam, Tứ phủ của người Việt. Với tôi, đó là cột mốc thiêng. Tôi cảm thấy như mở ra một thời kỳ hưng long của Đạo”.

Và rồi ông chuyển sang mốc 2016 với sự xúc động kiềm nén: “Ngay sau đó, năm 2016, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Đó là thời khắc lịch sử. Niềm tự hào dân tộc. Niềm vui vô bờ của những người đang trực tiếp giữ và thực hành di sản như tôi”.

Nhưng niềm vui – theo ông – không bao giờ được phép biến thành sự chủ quan. Được vinh danh cũng là lúc dễ bị “biến dạng” nhất.

Ông nói rõ điều ông tự ràng buộc mình: “Nhưng vui thì vui, trách nhiệm càng nặng. Tôi hay tự nhắc: đạo tâm, đạo hạnh và đạo nghĩa phải hòa làm một. Đạo không tách rời đời. Đạo

hạnh không thể thiếu đạo nghĩa. Và đạo nghĩa phải đi bằng văn hóa”.

Ông nhìn thẳng, như nói với cả những người đang thực hành di sản hôm nay: “Di sản được tôn vinh cũng đồng nghĩa di sản dễ bị biến dạng. Thương mại hóa, lai căng hóa, sân khấu hóa thiếu kiểm soát… đều là nguy cơ. Tôi giữ lập trường rất rõ: di sản sống phải đúng “hồn Việt”. Không thể để cái thiêng bị kéo lệch bởi thị hiếu nhất thời”.

Hoằng dương có kỷ cương: lan tỏa nhưng không lệch chuẩn

Ông kể về việc hoằng dương bằng truyền thông theo cách rất “đời”: “Ngày xưa làm gì có điện thoại nhiều, có YouTube, có mạng xã hội đâu. Người ta tiếp cận bằng băng, bằng đĩa. Tôi làm từng phần 10 đến 15 phút, giải thích từ căn bản: Đạo Mẫu thế nào, Mẫu là ai, Thần chủ là thế nào… rồi mới đi sâu. Tôi muốn người ta hiểu sơ qua cho đúng trước đã”.

Ông tiếp lời: “Sau này, tôi nghĩ phải có cách tiếp cận trực tiếp hơn trong giới thiệu và diễn giải giá trị văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu. Việc hoằng dương cần được thực hiện đúng không gian, đúng chuẩn mực: nghi lễ chỉ thực hành trong không gian thiêng như đền, phủ, điện thờ; còn ở không gian công cộng, sân khấu chỉ nên giới thiệu, minh họa, thuyết minh bằng các hình thức nghệ thuật truyền thống phù hợp. Nguyên tắc của tôi vẫn vậy: hoằng dương để công chúng hiểu đúng, chứ không phải để mua vui; mở cửa để lan tỏa nhận thức, nhưng phải đặt chuẩn để không bị lệch”.

Khi nói về khăn áo trong hầu Thánh, ông trở nên dứt khoát: “Tôi tự mua vải về rồi sáng tác, thiết kế khăn thuê, khăn chầu… kể cả bộ giáp khi hầu Nhà Trần. Nhưng tôi luôn đặt một nguyên tắc: đẹp nhưng phải phù hợp văn hóa hầu đồng. Nhìn vào phải biết ngay là Việt Nam, bản sắc Việt”.

Ông nói thẳng về những biểu hiện lai căng: “Nhiều cái đắt tiền, cầu kỳ, nhưng không phù hợp thì không được. Có thứ nhìn cứ như phim cổ trang nước ngoài. Không thể. Di sản sống có quyền sáng tạo, nhưng sáng tạo phải trong biên độ bản sắc. Không được đánh mất “căn cước văn hóa””.

Giữ bản sắc đôi khi nằm ở những điều nhỏ nhất: màu sắc, họa tiết, cách vấn khăn, lời văn, điệu hát… Những “chi tiết” ấy chính là nơi di sản bám rễ vào văn hóa Việt.

Không mê muội, không cuồng tín: giữ cái thiêng đi cùng cái đúng

Ông chậm rãi, như một lời dặn: “Tâm linh là lĩnh vực tinh thần, vô hình và khó lý giải, nên càng phải giữ sự tỉnh táo. Tôi không mê muội, không cuồng tín, và cũng không bao giờ xem tâm linh như một phương thức chữa bệnh theo nghĩa y học. Việc người ta tìm đến cửa Thánh, theo tôi, trước hết là để được trấn an về tinh thần, được chia sẻ, được tìm lại sự cân bằng trong tâm trí”.

Ông kể cả chuyện chỉnh lời văn: “Tôi nghe câu chữ nào dễ đưa người ta vào “cõi mê” là tôi sửa. Chỉ một chữ sai cũng có thể làm lệch tinh thần thực hành. Mình giữ cái thiêng phải đi cùng cái đúng”.

Ở những ngày đầu năm, khi con người dễ gửi gắm nhiều kỳ vọng, lời dặn ấy càng đáng suy ngẫm: tín ngưỡng là chỗ dựa tinh thần, không phải nơi dung dưỡng mê muội.

40 năm – từ ơn Gia Tiên – Thầy Tổ – đồng đền đến trách nhiệm với cộng đồng và quốc gia

Giọng ông trầm xuống khi quay về mốc 40 năm – mốc của năm 2025: “Năm 2025 vừa qua, tính ra là tròn bốn mươi năm tôi phụng sự Tiên Thánh và thực hành nghi lễ. Một chặng đường dài. Bốn mươi năm vui – buồn đan xen, nhưng tựu trung là bốn mươi năm vun bồi đạo hạnh”.

Ông nhắc đến tinh thần học hỏi và khiêm cung: “Tôi luôn tôn kính, học hỏi các bậc trưởng thượng, các vị tiền bối, đồng đền… để mong hoàn thiện mình. Hoằng truyền Thánh đạo không phải chỉ bằng lời nói, mà bằng cách sống, cách giữ đạo”.

Rồi ông nói về chữ “ơn” – như một mạch đạo nghĩa xuyên suốt đời phụng sự, trong đó ơn cha mẹ, đặc biệt là ơn Mẹ, luôn được ông đặt ở vị trí thiêng liêng nhất: “Tôi tri ân Gia Tiên Tiền Tổ, tri ân Phật Thánh khai sáng – chở che, tri ân Thầy Tổ bắc cầu dìu dắt; nhưng trước hết và sâu nặng nhất vẫn là tri ân cha mẹ sinh thành, dưỡng dục. Có hiếu với cha mẹ thì mới có gốc để giữ đạo, mới có nền để phụng sự Tiên Thánh. Tôi cũng ghi nhận ơn Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp đã tạo điều kiện để những người con Thánh chuyên tâm gìn giữ văn hóa đặc sắc của dân tộc”, ông Được chia sẻ.

NNƯT Nguyễn Văn Được.
NNƯT Nguyễn Văn Được và người Mẹ năm nay đã 93 tuổi của mình.

Hình ảnh người mẹ 93 tuổi của ông Được hiện lên như một điểm lặng đầy xúc động. Mỗi tối, mẹ đứng ở hiên nhà lặng lẽ nhìn sang, chỉ một ô cửa phòng con chưa sáng đèn là lòng đã không yên; đến khi ánh đèn bật lên, mẹ mới an tâm trở vào nghỉ. Và trong ngày vui trọng đại của con, mẹ chỉ xin một điều rất giản dị: “Làm cho Mẹ một lẵng hoa… để Mẹ chúc mừng con”.

Những chi tiết đời thường ấy làm sáng rõ một điều: Đạo Mẫu không phải là khái niệm trừu tượng, mà hiện hữu trong chính tình Mẫu tử đời thường – âm thầm, bền bỉ, bao dung và hi sinh. Với Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Được, phụng sự Tiên Thánh không tách rời đạo hiếu; hiểu Mẫu trong đền phủ cũng chính là thấu Mẫu trong gia đình – người mẹ già tảo tần, hiền từ, được ông trân trọng như một “vị Phật sống” của đời mình. Đó là cách đạo – đời song hành: giữ Thánh đạo bằng nền tảng hiếu nghĩa, để cái thiêng luôn bắt rễ vững chắc trong đời sống con người.

Ông kết bằng lời cầu như mang hơi thở của Xuân: “Khép lại năm 2025, bước sang Xuân 2026, tôi chỉ cầu cho đạo sáng đời bền. Cầu cho văn hóa cổ truyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam được lưu truyền muôn thuở. Để con cháu đời sau biết rằng: một lòng hướng đạo là hướng chân – thiện – mỹ; là giữ lấy gốc nguồn, đạo lý, phong tục, bản sắc người Việt”.

Trong làn khói hương của đền Phú Hưng những ngày giáp Tết, câu chuyện bốn mươi năm của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Văn Được không ồn ào. Nó lặng lẽ như nắng mỏng vắt qua mái ngói rêu phong. Nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại làm nên sức bền: giữ lấy cái gốc, để mùa Xuân nào cũng có chốn quay về.

Nhất Nam

(Theo Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 1/2026)

 

Bài viết liên quan