Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển bền vững đất nước

Trong tiến trình đổi mới, hội nhập quốc tế và phát triển bền vững, tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân mà còn là nguồn lực văn hóa, đạo đức và xã hội quan trọng của đất nước. Việc nhận diện đầy đủ vai trò, giá trị và tiềm năng của các tôn giáo, đồng thời phát huy hiệu quả các nguồn lực ấy trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và củng cố nền tảng đạo đức xã hội là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược trong giai đoạn hiện nay.

Đại đoàn kết tôn giáo
Đại đoàn kết toàn dân tộc tạo ra sức mạnh vô cùng to lớn phát triển đất nước.

Tôn giáo – nguồn lực xã hội trong phát triển đất nước

Việt Nam là quốc gia có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, đa dạng. Các tôn giáo hiện diện trong đời sống dân tộc không chỉ như những thiết chế đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân mà còn như những cộng đồng xã hội có khả năng đóng góp tích cực vào sự phát triển chung. Trải qua lịch sử hình thành và phát triển của đất nước, nhiều tôn giáo đã gắn bó với vận mệnh dân tộc, đồng hành cùng nhân dân trong lao động sản xuất, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đời sống văn hóa và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong nhiều năm qua, nhận thức về vai trò của tôn giáo đã có sự chuyển biến quan trọng. Tôn giáo ngày càng được nhìn nhận không chỉ từ phương diện đời sống tinh thần mà còn từ góc độ nguồn lực phát triển. Nguồn lực ấy trước hết thể hiện ở cộng đồng tín đồ đông đảo, đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành có uy tín, hệ thống cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng rộng khắp và khả năng tổ chức, huy động xã hội ở cơ sở. Sâu xa hơn, nguồn lực tôn giáo còn nằm ở hệ giá trị đạo đức, tinh thần liên đới, lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm cộng đồng và khát vọng phụng sự con người mà các tôn giáo đang gìn giữ, thực hành và lan tỏa.

Trong bối cảnh phát triển bền vững trở thành mục tiêu chung của nhân loại, các giá trị như yêu thương, bác ái, khoan dung, vị tha, tôn trọng phẩm giá con người, sống hài hòa với thiên nhiên và trách nhiệm với cộng đồng mà các tôn giáo đề cao có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là những nguồn lực mềm góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, củng cố đạo đức xã hội, tăng cường niềm tin cộng đồng và tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển bền vững.

Từ góc nhìn phát triển, nguồn lực tôn giáo không tách rời nguồn lực văn hóa và nguồn lực con người. Khi được định hướng, khơi dậy và phát huy đúng đắn, các giá trị tích cực của tôn giáo có thể trở thành động lực thúc đẩy hành vi xã hội tích cực, khuyến khích lối sống nhân văn, giảm thiểu xung đột, củng cố sự đồng thuận và tăng cường năng lực tự quản của cộng đồng. Đây là những yếu tố có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển đất nước trong điều kiện xã hội ngày càng đa dạng, mở và hội nhập sâu rộng.

Phát huy nguồn lực tôn giáo trong phát triển kinh tế – xã hội

Thực tiễn cho thấy, các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo đang có nhiều đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Ở nhiều địa phương, chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường, giữ gìn an ninh trật tự và phát triển cộng đồng.

Trong các vùng đồng bào tôn giáo, nhiều mô hình sản xuất, kinh doanh, hợp tác giúp nhau phát triển kinh tế đã được hình thành, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tinh thần đoàn kết, tương trợ, tiết kiệm, cần cù lao động và ý thức trách nhiệm với cộng đồng vốn được đề cao trong các giáo lý, giáo luật và sinh hoạt tôn giáo đã trở thành động lực thúc đẩy nhiều hoạt động phát triển ở cơ sở. Đây là biểu hiện sinh động cho thấy nguồn lực tôn giáo không chỉ tồn tại trong không gian tâm linh mà còn có thể chuyển hóa thành nguồn lực xã hội, nguồn lực kinh tế và nguồn lực cộng đồng.

Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo đang ngày càng khẳng định vai trò trong lĩnh vực an sinh xã hội. Thông qua các hoạt động từ thiện, nhân đạo, chăm sóc người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người già neo đơn, bệnh nhân nghèo và những nhóm yếu thế trong xã hội, các tôn giáo đã góp phần chia sẻ trách nhiệm với Nhà nước trong việc bảo đảm phúc lợi xã hội. Những hoạt động ấy thể hiện tinh thần nhân văn sâu sắc, đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển.

Trong những thời điểm đất nước đối diện với khó khăn do thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động kinh tế – xã hội, các tổ chức tôn giáo thường là lực lượng tích cực tham gia cứu trợ, hỗ trợ cộng đồng và lan tỏa tinh thần nhân ái. Sự hiện diện của các tôn giáo trong những hoàn cảnh ấy không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ vật chất mà còn có giá trị tinh thần to lớn, giúp củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự gắn kết cộng đồng và khơi dậy truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc.

Để nguồn lực tôn giáo được phát huy hiệu quả hơn trong phát triển kinh tế – xã hội, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức tôn giáo. Việc phát huy nguồn lực tôn giáo cần được đặt trên nền tảng tôn trọng pháp luật, tôn trọng đặc thù của từng tôn giáo, đồng thời tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tham gia phù hợp vào các lĩnh vực mà pháp luật cho phép và xã hội có nhu cầu.

Góp phần bảo tồn văn hóa và củng cố nền tảng đạo đức xã hội

Một trong những giá trị nổi bật của các tôn giáo là vai trò gìn giữ, bồi đắp và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống. Hàng nghìn cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng trên cả nước không chỉ là nơi sinh hoạt tâm linh mà còn là những thiết chế văn hóa quan trọng, lưu giữ dấu ấn lịch sử, kiến trúc, mỹ thuật, tri thức dân gian, phong tục và ký ức cộng đồng. Nhiều chùa, nhà thờ, đình, đền, phủ, thánh thất, cơ sở thờ tự đã trở thành không gian văn hóa đặc thù, góp phần tạo nên bản sắc đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam.

Các lễ hội tôn giáo, tín ngưỡng cũng là bộ phận không thể tách rời của đời sống văn hóa cộng đồng. Thông qua lễ hội, nhiều giá trị như lòng biết ơn tổ tiên, tinh thần hướng thiện, sự gắn kết cộng đồng, ý thức về cội nguồn và trách nhiệm với quê hương được duy trì, trao truyền qua các thế hệ. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi các giá trị truyền thống đứng trước nguy cơ bị phai nhạt hoặc thương mại hóa, việc phát huy vai trò của tôn giáo trong bảo tồn văn hóa cần được quan tâm đúng mức, bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn và phát triển, giữa sinh hoạt tâm linh và đời sống văn hóa lành mạnh.

Bên cạnh phương diện văn hóa, các tôn giáo còn góp phần củng cố nền tảng đạo đức xã hội. Các giáo lý, giáo luật và chuẩn mực đạo đức tôn giáo thường hướng con người tới các giá trị chân – thiện – mỹ, khuyến khích lối sống nhân ái, trung thực, hiếu nghĩa, trách nhiệm, khoan dung và phụng sự. Những giá trị này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội hiện đại đang chịu tác động mạnh mẽ của kinh tế thị trường, chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng và sự suy giảm niềm tin ở một số lĩnh vực đời sống.

Phát huy giá trị đạo đức tôn giáo không có nghĩa là thay thế các chuẩn mực đạo đức xã hội bằng chuẩn mực tôn giáo, mà là nhận diện, khuyến khích và lan tỏa những điểm tương đồng tích cực giữa đạo đức tôn giáo với đạo đức dân tộc, đạo đức công dân và các giá trị phổ quát của nhân loại. Khi những giá trị ấy được thực hành trong gia đình, cộng đồng và xã hội, tôn giáo sẽ góp phần xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, củng cố niềm tin, hạn chế các hành vi lệch chuẩn và nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân.

Chung tay vì mục tiêu phát triển bền vững

Phát triển bền vững không chỉ là tăng trưởng kinh tế, mà còn là sự hài hòa giữa phát triển con người, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa và củng cố nền tảng đạo đức. Ở những phương diện đó, các tôn giáo có nhiều tiềm năng đóng góp tích cực. Những giáo lý đề cao sự hài hòa giữa con người với thiên nhiên, tinh thần tiết chế, lòng biết ơn, trách nhiệm với sự sống và ý thức bảo vệ môi trường đang trở thành nguồn lực quan trọng để huy động cộng đồng tham gia giải quyết các vấn đề phát triển.

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức tôn giáo đã tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu và xây dựng lối sống xanh. Các mô hình như “cơ sở tôn giáo xanh”, “xứ đạo bảo vệ môi trường”, “chùa xanh”, “khu dân cư sáng – xanh – sạch – đẹp” được triển khai tại nhiều địa phương, góp phần thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng. Những mô hình này cho thấy khi giáo lý tôn giáo được kết hợp với trách nhiệm công dân và yêu cầu phát triển bền vững, chúng có thể tạo ra sức lan tỏa xã hội tích cực.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, già hóa dân số, phân hóa xã hội và những thách thức mới của quá trình chuyển đổi số, vai trò của các tôn giáo càng cần được nhìn nhận một cách toàn diện hơn. Các tổ chức tôn giáo có thể tham gia vào việc giáo dục lối sống trách nhiệm, khuyến khích tiêu dùng bền vững, hỗ trợ người yếu thế, chăm sóc sức khỏe tinh thần, tăng cường liên kết cộng đồng và xây dựng văn hóa đối thoại trong xã hội.

Để phát huy hiệu quả hơn nữa nguồn lực tôn giáo trong giai đoạn tới, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển cộng đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Đồng thời, cần tăng cường đối thoại, hợp tác và xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa các cơ quan quản lý nhà nước với các tổ chức tôn giáo trên cơ sở tôn trọng, đồng hành, minh bạch và cùng hướng tới lợi ích chung của đất nước.

Tôn giáo không chỉ là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân mà còn là nguồn lực văn hóa, đạo đức và xã hội quan trọng đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Những giá trị tốt đẹp mà các tôn giáo đang gìn giữ và lan tỏa đã, đang và sẽ tiếp tục góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và thúc đẩy tiến trình phát triển kinh tế – xã hội.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc phát huy hiệu quả nguồn lực tôn giáo không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình phát triển mà còn là giải pháp quan trọng nhằm khơi dậy sức mạnh nội sinh của dân tộc. Khi những giá trị nhân văn, đạo đức và trách nhiệm xã hội của các tôn giáo được phát huy đúng hướng, tôn giáo sẽ tiếp tục đồng hành cùng dân tộc, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc.

Đại tá, NNC Hà Huy Thắng

Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu các vấn đề về Tôn giáo và Tín ngưỡng

(Theo đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 2/2026)

Bài viết liên quan