Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt hình thành từ rất sớm đến thế kỷ XVI với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh thì hoàn thành một hệ thống Tam Phủ và Tứ Phủ. Trong đó Thánh Mẫu Liễu Hạnh được suy tôn là “Mẫu nghi thiên hạ” – Mẹ của muôn dân – và là vị thần chủ tối cao trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ,. Với sức sống bền bỉ qua nhiều thế kỷ, tín ngưỡng này đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, gửi gắm ước vọng về sức khỏe, bình an, tài lộc trong cuộc sống thường nhật.

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt đã được UNESCO vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào ngày 1 tháng 12 năm 2016. Sự kiện này không chỉ là niềm tự hào mà còn đặt ra trách nhiệm sâu sắc trong việc bảo vệ tính chân xác và sức sống lâu bền của di sản quý báu này. Ngay sau khi được ghi danh, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Chương trình Hành động quốc gia nhằm bảo vệ và phát huy di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ” giai đoạn 2017-2022. Tuy nhiên, yếu tố quyết định thành công của công tác bảo tồn chính là cộng đồng những người thực hành và tín đồ – những chủ thể gìn giữ di sản, nếu thiếu sự tham gia tích cực của cộng đồng chủ thể di sản, chúng ta không thể thành công trong việc bảo vệ và phát huy di sản này.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ là một tín ngưỡng dân gian thuần Việt, tôn thờ hệ thống các Thánh Mẫu – những “Mẹ” hóa thân cai quản các miền trời, rừng núi, sông nước. Đứng đầu điện thần Tam phủ là Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên), bên cạnh Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, hợp thành “Tam tòa Thánh Mẫu” trong các đền phủ. Thánh Mẫu Liễu Hạnh đồng thời là một trong “Tứ bất tử” của thần điện Việt Nam, gắn liền với nhiều huyền tích kỳ ảo và được nhân dân tôn kính qua câu chuyện ba lần giáng trần cứu nhân độ thế. Bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Nữ thần thời cổ, đạo Mẫu phát triển mạnh từ thế kỷ XVI và nhanh chóng lan tỏa trong đời sống tâm linh người Việt, đặc biệt là ở miền Bắc – vùng đất hội tụ nhiều trung tâm thờ Mẫu lớn.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ hiện diện rộng khắp ở các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Những địa bàn nổi tiếng có thể kể đến như Nam Định cũ, Hà Nội, Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ… cho tới các tỉnh miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, và lan tỏa cả vào Nam. Trong đó, tỉnh Nam Định cũ được coi là một trung tâm tiêu biểu của đạo Mẫu: riêng Nam Định có gần 400 đền, phủ, điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh, nổi tiếng nhất là quần thể Phủ Dầy – nơi lưu truyền huyền tích giáng thế của Mẫu. Hàng năm, Lễ hội Phủ Dầy diễn ra vào tháng Ba âm lịch – dịp “giỗ Mẹ ” – thu hút hàng vạn khách hành hương về trảy hội, tham gia các nghi lễ truyền thống như rước thỉnh kinh, rước đuốc, hát chầu văn, hầu đồng…. Cùng với lễ hội “giỗ Cha Trần Hưng Đạo” ở tháng Tám, hai đại lễ này được ví như “quốc lễ” trong tâm thức dân gian người Việt, thể hiện đạo lý tôn vinh tiền nhân và tri ân các vị anh hùng dân tộc.
Về mặt giá trị văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, đó là đời sống tâm linh thực tiễn hướng con người tới những khát vọng tốt đẹp trong hiện tại . Khác với các tôn giáo hướng đến cứu rỗi ở thế giới bên kia, đạo Mẫu đề cao việc phụng thờ các vị Thánh Mẫu để mong được chở che, ban ơn trong cuộc sống trần thế. Điều này phản ánh quan niệm nhân sinh “ở hiền gặp lành”: con người gửi gắm niềm tin rằng tổ tiên và các đấng siêu nhiên sẽ phù hộ cho những ai sống thiện lương. Tín ngưỡng thờ Mẫu thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” và lòng yêu nước nồng nàn của dân tộc. Nhiều vị thần trong điện thờ Mẫu vốn là anh hùng lịch sử có công với nước (ví dụ: Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Quan Lớn Tuần Tranh,Chầu Bát Nàn Tướng Quân, Ông Hoàng Mười, Cô Bơ… v.v.), được nhân dân thần thánh hóa và thờ phụng muôn đời. Khi phụng thờ các vị anh hùng dân tộc như Cha và Mẹ, người Việt vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh, vừa truyền tải bài học lịch sử yêu nước cho thế hệ mai sau. Đạo Mẫu tôn vinh vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội. Biểu tượng Thánh Mẫu – người Mẹ tối linh – được đặt ở ngôi cao nhất, khẳng định đức hy sinh và quyền năng sáng tạo của Mẹ trong văn hóa Việt. Việc người phụ nữ (Thánh Mẫu Liễu Hạnh) được suy tôn vào hàng “bất tử” duy nhất bên cạnh các nam thần cho thấy tín ngưỡng dân gian đã đề cao và bình đẳng vai trò nữ giới.
Thực tế cho thấy những năm gần đây, hàng loạt đền phủ được trùng tu, số lượng thanh đồng (ông đồng, bà đồng) gia nhập đạo Mẫu tăng nhanh trên khắp cả nước. Sự lan tỏa ấy cho thấy nhu cầu văn hóa tâm linh sâu rộng trong nhân dân, đồng thời đặt ra nhiệm vụ cấp thiết là phải quản lý và hướng dẫn thực hành đúng hướng để tránh biến tướng. Trong suốt quá trình đó, cộng đồng địa phương và các thanh đồng giữ vai trò nòng cốt trong việc trao truyền kiến thức, kinh nghiệm thực hành cho thế hệ tiếp nối, đảm bảo sự liên tục của di sản từ thế kỷ này sang thế kỷ khác, bài toán đặt ra là làm sao bảo tồn và phát huy được những giá trị tốt đẹp ấy, giữ cho đạo Mẫu vừa phù hợp đời sống hôm nay, vừa bảo toàn “tính thiêng” vốn có. Để giải quyết bài toán đó, vai trò của những người thực hành (các thanh đồng, cung văn, thủ nhang, v.v.) và của cộng đồng tín đồ là rất quan trọng.
Người thực hành ở đây được hiểu là những cá nhân trực tiếp tiến hành các nghi lễ thờ Mẫu – bao gồm thanh đồng (ông đồng, bà đồng thực hiện nghi thức lên đồng), cung văn (người tấu nhạc, hát chầu văn phục vụ nghi lễ), thầy cúng, thủ nhang đồng đền (người trông nom điện thờ) và các phụ đồng, hầu dâng phụ lễ. Họ chính là những chủ thể nòng cốt kiến tạo nên sức sống của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, là “cầu nối” giữa cõi thiêng và cõi thực, nếu thiếu vắng đội ngũ người thực hành tận tâm và am hiểu, di sản phi vật thể này khó có thể tồn tại bền vững, chứ chưa nói đến phát triển rực rỡ như ngày nay.
Trước hết, các thanh đồng (đồng thầy) giữ vai trò trung tâm trong thực hành nghi lễ. Mỗi giá hầu đồng – tức mỗi lần giáng đồng của một vị thánh – đều do thanh đồng nhập vai, thể hiện thông qua lời hát chầu văn, vũ điệu và hành động của mình những thông điệp mà thần linh muốn truyền đạt. Thanh đồng được xem như “hiện thân” của thánh trong khoảng thời gian lên đồng, là người trung gian để cộng đồng gửi gắm ước vọng tới cõi thiêng. Do đó, tài năng, đức độ và kinh nghiệm của thanh đồng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nghi lễ cũng như lòng tin của tín đồ. Những thanh đồng lão luyện, hiểu biết sâu sắc về thần tích, nghi thức sẽ tái hiện giá đồng một cách trang nghiêm, đúng truyền thống, qua đó giáo dục và cảm hóa người tham dự. Ngược lại, nếu người hầu đồng thiếu am hiểu hoặc thiếu đạo hạnh, có thể làm suy giảm sự tôn nghiêm của di sản. Ý thức được trọng trách đó, các đồng thầy chân chính luôn nêu cao tâm nguyện “phụng sự Thánh Mẫu, phục vụ nhân sinh”, đặc biệt với các thủ nhang đồng đền được công cử trông coi phụng sự các di tích, họ đóng vai trò truyền tải các giá trị lịch sử và tư liệu tại di tích đó. Hơn nữa họ cũng đóng vai trò trực tiếp góp phần cho lễ hội được thành công, đồng thời tái hiện các nghi lễ cổ truyền như tế lễ, rước kiệu, lễ rước Mẫu thỉnh kinh vì không ai khác chính họ là người nắm bắt được Tri thức dân gian về các nghi lễ này. Nhiều người chấp nhận hi sinh thời gian, công sức và cả vật chất, đồng thời kêu gọi các tín đồ và bản hội để góp phần vào việc trùng tu các di tích, thực tế cũng cho thấy nhiều di tích thờ Mẫu được khang trang như ngày hôm nay là nhờ tâm huyết và công lao của các đồng đền thủ nhang từ các thế hệ trước cho tới hiện tại.
Bên cạnh thanh đồng, vai trò của cung văn và dàn nhạc lễ cũng hết sức quan trọng. Hát chầu văn – với ca từ bác học, làn điệu phong phú – được ví như “linh hồn” của mỗi buổi hầu đồng. Người cung văn giỏi không chỉ thông thạo hàng trăm bài hát văn cổ, mà còn ứng tác linh hoạt theo diễn tiến của giá đồng, phối hợp nhịp nhàng với thanh đồng để tôn vinh hình tượng vị thánh được hầu. Tiếng đàn nguyệt, đàn nhị dìu dặt cùng giọng hát văn lúc khoan thai, lúc dồn dập góp phần dẫn dắt tâm thức người dự lễ hòa vào không gian linh thiêng, trước biến đổi của nhiều dòng nhạc đương đại các cung văn vừa phải giữ các lề nối điệu hát cổ truyền, vừa cần phải tích cực truyền dậy kỹ năng cho các thế hệ kế cận.
Một vai trò nữa của người thực hành là họ thường tiên phong trong việc truyền bá và phát huy giá trị di sản tới cộng đồng rộng rãi hơn. Nhiều thanh đồng, cung văn giàu tâm huyết đã phối hợp với cơ quan văn hóa tổ chức các buổi giới thiệu và thực hành nghi lễ thờ Mẫu trong nước và quốc tế, trưng bày hiện vật, nói chuyện chuyên đề về tín ngưỡng thờ Mẫu tại bảo tàng, trường học… Những hoạt động này vừa thỏa mãn nhu cầu tâm linh của tín đồ, vừa giúp công chúng – đặc biệt là thế hệ trẻ – hiểu đúng và thêm tự hào về di sản cha ông. Ở các tỉnh thành như Ninh Bình, Hà Nội, Hưng Yên… chính những người thực hành đã thành lập hoặc tham gia tích cực vào các Câu lạc bộ tín ngưỡng thờ Mẫu. Tại đó, họ mở lớp truyền dạy hát văn, hướng dẫn nghi thức thực hành cho các tân đồng (người mới nhập đạo), qua đó đào tạo thế hệ kế cận một cách bài bản.
Đáng chú ý, không ít ông đồng, bà đồng còn thể hiện vai trò “đầu tàu” trong các hoạt động xã hội – đã đứng ra kêu gọi quyên góp để tu bổ đền phủ, xây dựng nhà tình nghĩa, làm từ thiện giúp đỡ người nghèo, tích cực ủng hộ đồng bào mỗi khi gặp thiên tai, Tri ân anh hùng liệt sỹ ở tại nhiều nghĩa trang liệt sỹ quốc gia trong cả nước. Những việc làm thiện nguyện ấy vừa tạo nguồn lực vật chất để bảo tồn di tích, vừa nâng cao hình ảnh tốt đẹp của cộng đồng đồng Mẫu trong con mắt xã hội.
Đồng thời người thực hành vừa phải làm đúng bổn phận “phụng Thánh, giúp đời”, vừa phải chung tay cùng cộng đồng gìn giữ tính thiêng liêng của nghi lễ, chống lại những biểu hiện lệch lạc có thể xảy ra, các thanh đồng thủ nhang cần phải tích cực nhắc nhở thậm chí lên án các hành vi có biểu hiện lệch chuẩn hoặc tiêu cực đến tín ngưỡng này. Có như vậy, hình ảnh tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt mới ngày càng đẹp hơn trong mắt cộng đồng xã hội và quốc tế.

Tóm lại, trước biến động xã hội và những nguy cơ mới nảy sinh, việc bảo vệ và phát huy di sản đạo Mẫu đòi hỏi một chiến lược tổng thể với sự chung sức của cả cộng đồng lẫn nhà quản lý. Những giải pháp từ giáo dục nhận thức, tự điều chỉnh trong cộng đồng đến chính sách hỗ trợ, chế tài pháp luật… đều cần được thực hiện đồng bộ, kiên trì. Điều quan trọng hơn cả là các thanh đồng là những người “ Truyền đăng kế tự” giữ cho mạch nguồn tín ngưỡng được duy trì, khác với các tín ngưỡng khác người đồng thầy thủ nhang vừa là người trình đồng mở phủ cho các con nhang đồng thời cũng là người tạ phủ cho các đệ tử vào các dịp đại lễ sau này, thật là thấy thiếu vắng khi một số di tích thờ mẫu chỉ có ban quản lý mang tính hành chính mà không có hình bóng các thủ nhang thanh đồng, nghệ nhân những “ Báu vật” nhân văn sống.
Kết luận:
Có thể khẳng định rằng vai trò của người thực hành và cộng đồng là yếu tố quyết định đối với sự trường tồn của di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt. Trải qua hơn 400 năm lịch sử, chính các thế hệ thanh đồng, cung văn, thủ nhang cùng đông đảo tín đồ đã âm thầm giữ lửa cho đạo Mẫu, để hôm nay di sản ấy được tỏa sáng rực rỡ và được thế giới vinh danh. Người thực hành là những “đại sứ văn hóa” mang hồn cốt Thánh Mẫu đến với muôn người, còn cộng đồng là mảnh đất nuôi dưỡng di sản, tạo sức sống cho tín ngưỡng bằng niềm tin và lòng nhiệt thành. Sự kết hợp hài hòa giữa tâm huyết của chủ thể di sản và sự ủng hộ của cộng đồng xã hội đã giúp tín ngưỡng thờ Mẫu vượt qua mọi thăng trầm, khẳng định giá trị trong đời sống tinh thần người Việt.
Trong bối cảnh đất nước hội nhập và phát triển, di sản đạo Mẫu đứng trước nhiều vận hội nhưng cũng không ít thách thức. Toàn cầu hóa mở ra cơ hội quảng bá hình ảnh Mẫu Tam phủ ra thế giới, nhưng đồng thời đặt ra nguy cơ ngoại lai, thương mại hóa xâm nhập. Điều này đòi hỏi cộng đồng người thực hành càng phải nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, đổi mới tư duy để thích ứng với thời đại. May mắn thay, sự vinh danh của UNESCO đã thổi một luồng sinh khí mới vào cộng đồng thực hành: giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về giá trị di sản, từ đó thêm tự hào và tích cực hơn trong việc bảo vệ, truyền bá tín ngưỡng thiêng liêng của mình. Đây chính là động lực mạnh mẽ để cả cộng đồng cùng chung tay hành động.
Vai trò của cộng đồng – từ người thực hành đến mỗi tín đồ – vẫn sẽ là then chốt. Mỗi người con dân Việt nếu hiểu và trân trọng đạo Mẫu, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều có thể đóng góp vào việc giữ gìn tín ngưỡng thờ Mẫu trường tồn. Anh linh Thánh Mẫu sẽ mãi là nguồn mạch tâm linh nuôi dưỡng tâm hồn Việt, nếu chúng ta biết trân quý, bảo vệ và phát huy bằng cả tri thức lẫn tâm huyết của mình.
NNƯT VŨ THANH BÌNH



