Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là một di sản văn hóa tâm linh đặc sắc, phản ánh sâu sắc bản sắc dân tộc, đời sống tinh thần phong phú và truyền thống tôn vinh nữ thần trong văn hóa Việt Nam. Việc UNESCO ghi danh các thực hành của tín ngưỡng này trong Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2016 đã khẳng định những giá trị đặc biệt của nó đối với cộng đồng trong và ngoài nước. Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, việc lạm dụng, thực hành thiếu chuẩn mực di sản đang diễn ra phổ biến làm sai lệch giá trị nguyên gốc, gây ảnh hưởng đến tính thiêng của tín ngưỡng.
Bài viết này góp phần làm rõ nguồn gốc, bản sắc và giá trị chân xác của di sản, từ đó đề xuất cách hiểu và thực hành đúng đắn, góp phần bảo tồn và phát huy một cách bền vững tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trong đời sống đương đại.
Đặt vấn đề
Ngày 01/12/2016, tại Phiên họp lần thứ 11 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã chính thức đưa “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ngày 02/4/2017, tại Quần thể di tích lịch sử – văn hóa Phủ Dầy (một Trung tâm của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt ở Nam Định và cả nước) Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) và Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định đã long trọng tổ chức Lễ đón Bằng của UNESCO. Bà Susan Vize, Quyền Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đã trao Bằng của UNESCO ghi danh “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” cho Lãnh đạo Bộ VHTTDL và Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình)
Đây là một sự kiện văn hóa lớn, là niềm vinh dự, tự hào đối với tỉnh Nam Định (địa phương được giao nhiệm vụ chủ trì xây dựng Hồ sơ đề cử quốc gia trình UNESCO) nói riêng và cũng là niềm vui chung của cộng đồng – chủ thể văn hóa của di sản và Nhân dân cả nước.
Tuy nhiên, bên cạnh niềm vinh dự, chúng ta cũng cần ý thức trách nhiệm lớn lao trong việc bảo vệ, phát huy giá trị tốt đẹp của di sản, thực hiện nghiêm túc cam kết của quốc gia đối với di sản đã được UNESCO ghi danh, ngăn chặn việc thực hành lệch lạc, làm biến tướng di sản, lạm dụng di sản để trục lợi. Cơ sở quan trọng để thực hiện điều đó là cần nhận diện đúng đắn và đầy đủ những giá trị cốt lõi của di sản, tránh hiểu sai lệch, phiến diện về “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”.
TÍN NGƯỠNG THỜ MẪU TAM PHỦ CỦA NGƯỜI VIỆT BẢN SẮC VÀ GIÁ TRỊ
1. Sự hình thành của tín ngưỡng
1.1. Thờ Mẫu Tam phủ/ Tứ phủ là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa, do cộng đồng người Việt sáng tạo, có quá trình hình thành phát triển lâu đời, bắt nguồn từ tục thờ Nữ thần của cư dân nông nghiệp lúa nước. Với quan niệm “vạn vật hữu linh”, và cầu mong sự phồn thực, các hiện tượng tự nhiên có vai trò quan trọng trong xã hội nông nghiệp trồng lúa nước như: sấm, sét, đất, nước… đều được người Việt xưa đồng nhất với yếu tố âm và được nhân hóa thành nữ tính (mẹ) với quyền năng sáng tạo, sinh sôi nảy nở, bảo trợ đời sống tinh thần của cộng đồng.
Từ một tín ngưỡng sơ khai, đến thế kỷ XV-XVI với sự ảnh hưởng của Đạo giáo và xuất hiện huyền thoại về Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Bà là tiên nữ giáng trần, làm người rồi quy y Phật giáo, được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ”, và là một trong bốn vị Thánh bất tử của người Việt). Sự tích hợp văn hóa và mô thức thần điện mang tính cung đình, đã quy nạp toàn bộ hệ thống thờ Nữ/Mẫu thần của người Việt thành một thể thống nhất để hình thành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/ Tứ phủ. Trong đó, ở nhiều điện thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh được tôn vinh là thần chủ. Theo đó, quan niệm về vũ trụ âm dương được chia thành 4 miền gồm: miền Trời gọi là Thượng thiên tương ứng với màu đỏ, miền Đất gọi là Địa phủ tương ứng với màu vàng, miền Nước gọi là Thoải phủ tương ứng với màu trắng, miền Rừng núi gọi là Nhạc phủ tương ứng với màu xanh, mỗi miền đều do một Thánh Mẫu đứng chủ. Trong điện thần của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/Tứ phủ còn có các nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại là những người có công với dân với nước được cộng đồng tôn vinh.
1.2. Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình) nằm ở Trung tâm khu vực Nam đồng bằng sông Hồng, nơi hội tụ, lưu giữ và lan tỏa nhiều giá trị văn hóa truyền thống của của người Việt, trong đó có tín ngưỡng thờ Thánh Cha và Thánh Mẹ (tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ). Theo Truyền kỳ tân phả của Hồng Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm viết vào thế kỷ XVIII thì vùng đất Nam Định là nơi Mẫu Liễu Hạnh giáng sinh lần thứ nhất và lần thứ hai trong 3 lần sinh, hóa. Lần thứ nhất giáng sinh vào nhà họ Phạm, xã Vỉ Nhuế, huyện Đại An, phủ Nghĩa Hưng (nay là thôn Vỉ Nhuế xã Yên Đồng, tỉnh Ninh Bình) với tên gọi là Phạm Tiên Nga vào năm 1434, không lấy chồng, đến năm 40 tuổi thì mất (năm 1473). Lần thứ hai giáng sinh vào nhà họ Lê ở Kẻ Dầy, xã An Thái, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã
Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình) vào năm 1557 với tên là Lê Thị Thắng, lấy chồng là Đào Lang, đến năm 21 tuổi lại về trời (năm 1577). Bà được suy tôn là “Mẫu nghi thiên hạ”, một trong tứ bất tử của người Việt, là một hiện tượng lạ của “Thiên Bản lục kỳ” (Thiên Bản là tên cũ của huyện Vụ Bản) Dưới thời Lê, Nguyễn, Thánh Mẫu Liễu Hạnh đã được triều đình nhiều lần ban tặng sắc phong làm Thượng đẳng thần; đồng thời cử các quan lại địa phương đứng lên hưng công, trùng tu xây dựng các đền, phủ phụng thờ, tiêu biểu là phủ Tiên Hương, phủ Vân Cát. Đặc biệt, năm 1936, đồng quan Trần Vũ Thực và Hội Xuân Kinh Phổ Hóa (kinh thành Huế) đã khảo sát xây dựng lăng Mẫu, đến năm 1938 thì hoàn thành. Là trung tâm tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt, năm 1975 Phủ Vân Cát, Phủ Tiên Hương, Lăng Mẫu và các di tích liên quan thuộc quần thể Phủ Dầy (Xã Kim Thái, huyện Vụ Bản) đã được xếp hạng di tích quốc gia. Năm 2013 Phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên) cũng được xếp hạng di tích quốc gia. Tiếp theo năm 2012, 2013 hai thực hành cơ bản của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/Tứ phủ là “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” và “Lễ hội Phủ Dầy” ở Nam Định đã được Bộ VHTTDL đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/ Tứ phủ đã có sức lan tỏa mạnh mẽ khắp các địa phương trong và ngoài nước với nhiều địa điểm thờ tự có quy mô lớn như: Phủ Tây Hồ (TP. Hà Nội), đền Sòng (tỉnh Thanh Hóa), đền Bắc Lệ (tỉnh Lạng Sơn)… Chỉ tính riêng ở tỉnh Nam Định (thời điểm năm 2014-2015) đã có tới gần 400 địa điểm thực hành thường xuyên tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ.
1.3. Các thực hành của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ bao gồm các nghi thức cúng lễ, Nghi lễ Chầu văn hầu đồng và lễ hội v.v. Trong đó, Nghi lễ Chầu văn hầu đồng và lễ hội là những thực hành cơ bản nhất, thu hút đông đảo cộng đồng tham dự. Tiêu biểu ở tỉnh Nam Định cũ là Lễ hội Phủ Dầy (xã Kim Thái, huyện Vụ Bản), Lễ hội Phủ Quảng Cung (xã Yên Đồng, huyện Ý Yên) diễn ra từ ngày mồng 3 đến ngày 10 tháng 3 Âm lịch (ngày giỗ của Thánh Mẫu Liễu Hạnh), với những nghi lễ, diễn xướng dân gian, xếp chữ, lễ rước Thỉnh kinh và nhiều hoạt động văn hóa dân gian khác. Tại phủ Tiên Hương những năm gần đây còn có lễ Rước đuốc, Đại lễ kiều thỉnh năm quan, Kiều thỉnh Thánh Bà được tổ chức rất quy mô, trang trọng với sự tham gia của các vị Đại đức, tăng ni cùng đông đảo các tín đồ thờ Mẫu ở nhiều địa phương. Thông qua các yếu tố văn hóa dân gian như trang phục, âm nhạc, hát Chầu văn, múa, diễn xướng dân gian trong hầu đồng và lễ hội, người Việt thể hiện quan niệm của mình về lịch sử, di sản văn hóa, vai trò của giới và bản sắc tộc người. Sức mạnh và ý nghĩa của tín ngưỡng Thờ Mẫu Tam phủ chính là đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người như cầu sức khỏe, cầu bình an, cầu làm ăn phát đạt, mong ước đất nước thái bình…
2. Bản sắc và giá trị nổi bật của di sản
2.1. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ mang đậm bản sắc và giá trị tốt đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam, nó phản ánh thái độ ứng xử giữa con người với con người, con người với thiên nhiên. Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ coi trọng quyền năng sáng tạo, sinh sản của người Mẹ, lấy hình tượng Mẹ (Mẫu) để tôn vinh, gửi gắm những ước vọng tốt đẹp, sự bao dung, che chở trong cuộc sống.
Các thực hành trong Tín ngưỡng đề cao giá trị, vai trò của người phụ nữ trong đời sống gia đình và xã hội. Tình yêu mẹ trở thành nguồn cội gắn liền với tình yêu quê hương đất nước, thiên nhiên, góp phần cố kết nhân tâm, ổn định và phát triển xã hội. Qua các thực hành nghi lễ của tín ngưỡng giúp ta nhận thức về Mẫu (Mẹ), đó là biểu tượng về người phụ nữ Việt Nam điển hình với các phẩm chất tốt đẹp, được linh thiêng hóa thành Tiên, Phật, Thánh. “Là Tiên, là Phật, là Ta/Sinh sinh, hóa hóa, cũng là Bà đây” (câu đối tại lăng Thánh Mẫu Liễu Hạnh, thuộc Quần thể phủ Dầy)
2.2. Tín ngưỡng này chứa đựng giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc. Các vị thần trong điện thờ Mẫu là những nhân vật lich sử hoặc huyền thoại được lịch sử hóa thành những người có công trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc như Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Xí, Phùng Khắc Khoan, Lê Chân… Tri ân những người có công với dân với nước là truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, thể hiện ý thức về nguồn cội dân tộc. Điều này có ý nghĩa trong việc giáo dục nhân cách, cổ vũ, ca ngợi tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhất là đối với thế hệ trẻ.
2.3. Tín ngưỡng còn thể hiện tinh thần hòa hợp dân tộc, với tính cởi mở của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam/Tứ phủ của người Việt, mọi người đều có thể tham gia, không phân biệt xu hướng chính trị, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp. Tín ngưỡng còn thể hiện khả năng tiếp thu, tích hợp và bản địa hóa nhiều yếu tố tín ngưỡng, tôn giáo khác như thờ cúng Tổ tiên, Đạo giáo, Phật giáo, Nho giáo và văn hóa các dân tộc thiểu số: Mường, Dao, Tày, Nùng… thể hiện sự giao lưu, dung hòa, khoan dung văn hóa, mối quan hệ bình đẳng gắn bó mật thiết giữa các tộc người ở Việt Nam, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Nó trở thành biểu tượng đa dạng văn hóa trong sự thống nhất, góp phần vào sự đa dạng văn hóa và sáng tạo của nhân loại.
2.4. Giá trị của tín ngưỡng còn thể hiện ở những sáng tạo văn hóa dân gian. Các thực hành của Tín ngưỡng không chỉ là phương tiện để cộng đồng bày tỏ lòng thành kính với thần linh mà còn là điều kiện để tích hợp và bảo tồn nhiều loại hình văn hóa dân gian truyền thống như: âm nhạc, trang phục, nghề thủ công truyền thống, trình diễn, ẩm thực… đó cũng là phương thức nhằm lưu giữ lịch sử, di sản và bản sắc văn hóa của người Việt. Đặc biệt Tín ngưỡng còn sản sinh ra một loại hình âm nhạc dân gian độc đáo là Chầu văn, đó là một loại hình dân ca
tiêu biểu của người Việt, đóng góp vào kho tàng âm nhạc của dân tộc và nhân loại.
Với những giá trị nổi bật, phản ánh sự đa dạng văn hóa, có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng, “Nghi lễ Chầu văn của người Việt ở Nam Định” và “Lễ hội Phủ Dầy” đã được kiểm kê, lập hồ sơ khoa học và được Bộ VHTTDL đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia trong các năm 2012, 2013. Đây là cơ sở khoa học và pháp lý để Bộ VHTTDL đồng ý để tỉnh Nam Định chủ trì xây dựng Hồ sơ đề cử quốc gia Tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ của người Việt trình UNESCO.
CẦN HIỂU ĐÚNG DI SẢN ĐƯỢC UNESCO GHI DANH
1. Quá trình lập hồ sơ di sản trình UNESCO
Ngày 24/5/2012 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có công văn số 1586/BVHTTDL-DSVH đề nghị các địa phương có di sản văn hóa phi vật thể dự kiến lập hồ sơ trình UNESCO khẩn trương kiểm kê lập hồ sơ khoa học đề nghị đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, trong đó có Nghi lễ Chầu văn của người Việt. Ngày 27/12/2012 Bộ VHTTDL có quyết định công bố Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia (đợt 1), “Nghi lễ Chầu văn của người Việt” ở tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam được ghi danh trong đợt này. Ngày 17/6/2013 Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Nam có văn bản thống nhất để tỉnh Nam Định đại diện các địa phương chủ trì xây dựng hồ sơ Nghi lễ Chầu văn của người Việt trình UNESCO (đến thời điểm này chỉ có tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam lập hồ sơ). Đây là cơ sở khoa học và pháp lý để Bộ VHTTDL có quyết định thành lập Ban chỉ đạo xây dựng Hồ sơ và giao Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia phối hợp với Sở VHTTDL tỉnh Nam Định xây dựng Hồ sơ “Nghi lễ Chầu Văn của người Việt” trình UNESCO.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng Hồ sơ, Ban xây dựng Hồ sơ đã tham vấn các nhà khoa học thuộc Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia và các chuyên gia đồng thời thống nhất với tỉnh Nam Định đề nghị lấy tên Hồ sơ là “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”. Để tuyên truyền, vân động cho việc vinh danh di sản, Bộ VHTTDL mà trực tiếp là Cục Di sản văn hóa và Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia đã phối hợp với Ủy ban UNESCO Việt Nam, Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định tổ chức nhiều hoạt động giới thiệu giá trị di sản đến đông đảo công chúng trong và ngoài nước. Tại Nam Định, năm 2012 Trung tân Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Văn hóa thờ nữ thần (Mẫu) ở Việt Nam và châu Á- Bản sắc và giá trị”; Năm 1015, Bảo tàng tỉnh Nam Định huy động cộng đồng tổ chức triển lãm “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt- Bản sắc và giá trị”. Đầu năm 2016, Bộ Ngoại giao phối hợp với Ủy ban UNESCO Việt Nam và Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định tổ chức chương trình tham quan tìm hiểu thực hành di sản tại quần thể Phủ Dầy với sự tham dự của 20 đại sứ và 50 nhà ngoại giao của các nước, vùng lãnh thổ đang công tác tại Việt Nam.
Sau khi Hồ sơ “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” chỉnh sửa đệ trình lên UNESCO, ngày 11/8/2016 Ban Di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO có thư gửi, gợi ý Việt Nam đổi tên Hồ sơ thành “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” để phù hợp với tinh thần Công ước 2003 UNESCO. Ban xây dựng Hồ sơ đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ VHTTDL và Hội đồng di sản văn hóa quốc gia và hoàn thiện văn bản trình UNESCO tên gọi mới của di sản “Những thực hành liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”. Tại Hội nghị lần thứ 11 của Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO diễn ra tại Addis Ababa (Cộng hòa dân chủ Liên bang Ethiopia) ngày 01/12/2016 đã chính thức ra Nghị quyết (Quyết định 11.com10.b.37) vinh danh Thực hành liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
“Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO ghi danh đã khẳng định những giá trị nổi bật của di sản, góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản văn hóa đối với đời sống xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và nhân loại.
Ở cấp độ địa phương, Di sản được UNESCO ghi danh sẽ giúp mọi người trong các tầng lớp xã hội hiểu biết về giá trị và ý nghĩa của việc tôn thờ Thánh Mẫu, nâng cao nhận thức xã hội về các thực hành di sản, từ đó bảo vệ những giá trị tốt đẹp, loại bỏ các hủ tục, sự lạm dụng và biến tướng di sản.
Ở cấp độ quốc gia, việc ghi danh nâng cao nhận thức và tầm nhìn về giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đối với xã hội ở lĩnh vực tâm linh, văn hóa, nghệ thuật, vấn đề ứng xử và tôn vinh người Mẹ, những người có công với dân với nước.
Ở cấp độ quốc tế việc ghi danh nâng cao nhận thức về tầm quan trọng di sản văn hóa của tín ngưỡng thờ Mẫu, biểu tượng của tình yêu bao la, sự bao dung, che chở của người Mẹ, có ý nghĩa thiết thực trong sự kết nối giữa những cá nhân, nhóm người, cộng đồng người Việt ở trong nước, hải ngoại và các dân tộc khác trên thế giới.
2. Cần nâng cao nhận thức về di sản được UNESCO ghi danh
2.1. Di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” đều đáp ứng các tiêu chí của UNESCO và đã được biết đến ở tầm quốc tế. Tuy nhiên cũng cần nhận thức rõ, UNESCO ghi danh di sản này không ở góc độ tôn giáo, tín ngưỡng mà ở những thực hành liên quan đến di sản. Đó là những sáng tạo văn hóa của cộng đồng, có giá trị nhân văn, tiến bộ, thể hiện bản sắc của cộng đồng. Quyết định 11.Com 10.b.37 của UNESCO ghi rõ: “Vinh danh Thực hành liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”. (Sau này các văn bản của Việt Nam đều ghi tên di sản này là “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”).
Vì vậy cần hiểu đúng tên di sản được UNESCO vinh danh là “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt”, không phải toàn bộ tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, đồng thời cũng hiểu cho đúng không phải UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại mà là ghi danh trong Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân hiểu chưa đầy đủ và sử dụng tên gọi không đúng với tên di sản được UNESCO ghi danh để tuyên truyền, phát huy giá trị di sản.
2.2. Hiện nay, một bộ phận công chúng coi di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” được UNESCO vinh danh chỉ là hầu đồng. Hiểu như vậy là phiến diện, hầu đồng hay lên đồng chỉ là một thành tố của di sản Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ. Bên cạnh đó còn có các thực hành khác như nghi lễ thờ cúng, hoạt động lễ hội với các nghi lễ như: rước Thỉnh kinh, xếp chữ, các hoạt động văn hóa truyền thống trong lễ hội, sự tham gia sinh hoạt cộng đồng tìm hiểu và thực hành, sáng tạo các giá trị văn hóa liên quan đến di sản, đó là sự tích hợp rất nhiều biểu hiện và giá trị văn hóa. Một số người còn lầm tưởng vinh danh di sản này là vinh danh các ông/bà đồng. Hiểu như vậy là sai lệch, chưa toàn diện đầy đủ về di sản. Trong thực hành nghi lễ hầu đồng, vai trò của các ông/bà đồng rất quan trọng. Tuy nhiên, để thực hành một vấn hầu, một giá đồng đòi hỏi có sự kết hợp của nhiều chủ thể cùng tham gia thực hành như: pháp sư, hầu dâng, cung văn, người tham dự nghi lễ và các yếu tố trang trí trong không gian thiêng, đồ lễ, trang phục, đạo cụ… Vì vậy cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nhân dân, các chủ thể của di sản văn hóa phi vật thể hiểu đúng, đầy đủ tên gọi, bản chất và giá trị của di sản được UNESCO ghi danh.
3. Cần tăng cường công tác quản lý Nhà nước
Sau khi di sản được UNESCO ghi danh, nhiều cơ quan đơn vị đã phối hợp với các tổ chức cộng đồng, chủ thể của di sản tổ chức tọa đàm, hội thảo khoa học và “diễn xướng hầu đồng”. Không thể phủ nhận các hoạt động đó đã huy động nguồn lực từ xã hội hóa, góp phần quảng bá, bảo tồn và phát huy giá trị của di sản. Tuy nhiên, cũng có cơ quan, đơn vị không có chức năng quản lý, nghiên cứu về di sản văn hóa cũng tổ chức các hoạt động trên theo kiểu “trăm hoa đua nở”. Do không hiểu đầy đủ về giá trị và bản chất của di sản nên hiệu quả tuyên truyền, giáo dục về di sản không cao. Có đơn vị còn đứng ra tổ chức “liên hoan hầu đồng”, thi trình diễn trang phục hầu đồng do các thanh đồng thực hiện hoặc tặng các bằng vinh danh, bảng vàng… cho tổ chức cá nhân tham dự hầu đồng, không đúng thẩm quyền và quy định của Luật thi đua khen thưởng. Đáng trách là có đơn vị tổ chức liên hoan hầu đồng, để các ông/bà đồng thực hành Nghi lễ Chầu văn, hầu đồng diễn ra trên sân khấu của các thiết chế văn hóa công cộng không liên quan đến thờ Mẫu. Điều đó làm mất đi tính “thiêng” của di sản, làm “trần tục hóa” tín ngưỡng dẫn đến nhiều người hiểu sai lệch về di sản, coi hầu đồng như một hoạt động văn hóa, văn nghệ. Vì thế nên đã có trường hợp diễn xướng mô phỏng hầu đồng trong cả đám cưới, bàn ăn… Nghi lễ Chầu văn, hầu đồng chỉ có thể do các ông/bà đồng (những người được coi là có căn quả) thực hành trong không gian thiêng, nơi thờ Mẫu Tam phủ/ Tứ phủ mà thôi. Trong trường hợp cần giới thiệu di sản phục vụ nghiên cứu, ngoại giao ở ngoài địa điểm thờ Mẫu thì cần tạo “tính thiêng” do cộng đồng thực hiện. Để chấn chỉnh hoạt động hầu đồng trong thực hành di sản này, tại Công văn số 618/BVHTTDL-DSVH ngày 12/2/2018 của Bộ VHTTDL đã ghi rõ: “…Chỉ tổ chức hầu đồng ở những nơi có điện thờ Mẫu hoặc di tích thờ Mẫu; không tổ chức nghi lễ hầu đồng ở khu vực công cộng với tính chất một loại hình dịch vụ du lịch hay ca nhạc đường phố…”
Cá biệt, có địa phương do chưa hiểu đầy đủ về giá trị di sản, chưa cập nhật các văn bản chỉ đạo của bộ VHTTDL về quản lý nhà nước đối với di sản, họ vẫn coi hầu đồng là mê tín, dị đoan nên còn gây khó khăn, chưa tạo điều kiện để cộng đồng là chủ thể của di sản thực hành tín ngưỡng. Vì vậy, cần phổ biến và thực hiện nghiêm Công văn số 3094/BVHTTDL-DSVH ngày 26/8/2021 của Bộ VHTTDL về tăng cường công tác quản lý nhà nước và tiếp tục thực hiện Chương trình Hành động quốc gia đã cam kết với UNESCO.
Để quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” trong xã hội đương đại, trước hết là cần nhận diện đúng, đầy đủ bản chất và giá trị cốt lõi của di sản và thực hiện nghiêm các quy định về quản lý nhà nước đối với di sản đã được UNESCO ghi danh. Đó còn là cơ sở giúp chúng ta ngăn chặn sự lạm dụng, biến tướng làm sai lệch thực chất của di sản, để “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” luôn xứng đáng là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại.
- Nguyên Giám đốc Bảo tàng tỉnh Nam Định.
Tài liệu tham khảo:
– Hồ sơ Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia “Nghi lễ Chầu Văn của người Việt” và “Lễ hội phủ Dầy”, Bảo tàng tỉnh Nam Định
– Hồ sơ Di sản đề cử Quốc gia “Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt” , Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định
– Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt – Hành trình đến di sản nhân loại, NXB Thế giới, 2017
Ảnh 1: Giá trị của tín ngưỡng còn thể hiện ở những sáng tạo văn hóa dân gian




