Tín ngưỡng thờ Mẫu trong đời sống hiện nay

GS.TS. danh dự Chu Bảo Quế

Trong cuộc sống xã hội hiện nay của Việt Nam tồn tại rất nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau, nhưng có thể nói: Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc bản địa đích thực. Cụ thể hơn là tín ngưỡng thuần Việt, của người Việt. Trong quá trình phát triển, tín ngưỡng Thờ Mẫu đã thu nhận và chịu ảnh hưởng không ít của Đạo giáo, Phật giáo và cả Nho giáo. Tuy nhiên, cho dù xã hội ngày nay đã phát triển với nhiều bước tiến khoa học hiện đại nhưng Đạo Mẫu ngày càng phát triển và có vị trí quan trọng trong xã hội. Đạo Mẫu không những phát triển và cũng là một tín ngưỡng phổ biến tồn tại song song với các tôn giáo lớn khác như Đạo Phật. Điều này được chứng minh khi bên cạnh rất nhiều ngôi đình, đến, chùa của người Việt hiện nay đều có nhà thờ Mẫu.

Trong xã hội hiện nay có những quan niệm cho rằng “Đạo Mẫu gắn liền với mê tín dị đoan”. Đây hoàn toàn là những quan niệm sai lầm do sự thiếu hiểu biết và bị ảnh hưởng của những động cơ không lành mạnh đã gây nên những vấn nạn làm ảnh hưởng xấu đến Đạo Mẫu của Việt Nam.

Thờ Đạo Mẫu – tín ngưỡng thuần Việt mang đậm bản sắc dân tộc

Theo thống kê dân gian và nghiên cứu của nhiều học giả, ở Việt Nam có hơn 75 vị thần nữ được nhân dân tôn thờ. Trong đó, ba vị Nữ thần nổi bật nhất – cũng là “trụ cột” của Đạo Mẫu – chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh ở miền Bắc, Thiên Y A Na (Chúa Ngọc) ở miền Trung và Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen) ở miền Nam. Hình tượng các vị nữ thần này không chỉ dừng lại ở truyền thuyết, mà đã in sâu trong đời sống tâm linh của cộng đồng, trở thành “người Mẹ chung” chở che, bao bọc cho muôn dân.

Điểm đáng chú ý là, khác với nhiều tín ngưỡng mang tính phụ quyền, Đạo Mẫu tôn vinh người phụ nữ như trung tâm của vũ trụ. Đây chính là biểu hiện độc đáo của tư duy mẫu hệ còn lưu dấu trong văn hóa Việt. Thánh Mẫu không chỉ là người sinh thành, dưỡng dục mà còn là đấng tối cao, có quyền năng chi phối thiên nhiên – từ mưa nắng, mùa màng đến sự bình an của con người. Điều này phản ánh niềm tin sâu xa của người Việt rằng thiên nhiên cũng là một “người Mẹ”, cần được tôn trọng và hòa hợp.

Trải qua tiến trình lịch sử, Đạo Mẫu phát triển thành hệ thống Tam phủ – Tứ phủ, tạo thành một “vũ trụ quan dân gian” độc đáo. Mẫu Thượng Thiên (Đệ Nhất) cai quản bầu trời, biểu trưng cho sức mạnh siêu nhiên và sự sống; Mẫu Thượng Ngàn (Đệ Nhị) cai quản núi rừng, hiện thân của sự màu mỡ, phì nhiêu; Mẫu Thoải (Đệ Tam) trấn giữ sông nước, mang lại nguồn sống, sự giao thương. Bổ sung cho hệ thống này còn có Mẫu Địa – vị Thánh Mẫu gắn liền với đất đai, mùa màng và nông nghiệp. Như vậy, Đạo Mẫu bao trùm toàn bộ vũ trụ: trời – rừng – nước – đất, phản ánh cách người Việt kiến giải thế giới và tìm sự cân bằng trong cuộc sống.

Trong các đền phủ thờ Mẫu, bên cạnh Tam tòa Thánh Mẫu còn có sự hiện diện của Ngọc Hoàng, Nam Tào – Bắc Đẩu, Ngũ vị quan lớn, Tứ vị chầu bà, các cô, các cậu… tạo nên một cấu trúc tâm linh đa tầng, vừa linh thiêng vừa gần gũi. Người dân đến với Đạo Mẫu không chỉ để cầu xin phù hộ, mà còn để cảm nhận mối liên hệ giữa con người với thiên nhiên, giữa đời thường với cõi thiêng.

Có thể nói, sự hình thành và phát triển của Đạo Mẫu là kết tinh của nhiều yếu tố: ký ức mẫu hệ, sự giao thoa tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo), cùng với nhu cầu tâm linh bản địa. Tất cả tạo nên một tín ngưỡng thuần Việt, không vay mượn, mà ngược lại, khẳng định bản lĩnh văn hóa của dân tộc. Chính vì vậy, việc bảo tồn và phát huy Đạo Mẫu không chỉ là giữ gìn một tín ngưỡng, mà còn là giữ gìn linh hồn dân tộc, một di sản văn hóa độc đáo không thể thay thế.

Ý nghĩa của phong tục Hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu

Nhắc đến đạo Mẫu thì Hầu đồng là một phong tục không thể tách rời. Ở đâu có Thờ Mẫu thì ở đó phong tục Hầu đồng sẽ tồn tại. Hầu đồng là một hình thức diễn xướng lại các sự tích của các vị thần, để ca ngợi công lao, bày tỏ tấm lòng thành kỉnh đối với các vị thần. Chính vì vậy, Hầu đồng phải mang sắc thái tôn nghiêm, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa âm nhạc, đạo cụ, trang phục, nghệ thuật diễn xướng và tấm lòng tôn kính với thần linh. Trong các dịp lễ hội tại đến, am, phủ thường hay diễn ra loại hình này. Tuy tồn tại trong tín ngưỡng của người dân nhưng về cấu trúc tổ chức thì Hầu đồng lại rất chặt chẽ, đòi hỏi những người theo Đạo Mẫu cần phải có sự am hiểu một cách tường tận. Về diễn xướng, tất cả những ai nếu có căn đồng đều có thể nhập đồng và biểu diễn các giá Đồng, gồm 36 giá, mỗi giá Đồng thể hiện một nhân vật cụ thể, với tên tuổi và tính cách khác nhau.

Ví dụ: Cùng hàng giá Chầu thì Châu Lục phải khác với Chầu Đệ Nhị; giá các Đức ông thì phải oai phong, lẫm liệt, múa kiếm, bắn cung; giả các Cô bé thì phải điệu đàng. duyên dáng; giá các Cậu bé thì nhí nhảnh, tỉnh nghịch… Hầu đồng có ý nghĩa như chiếc chìa khóa mở cánh cửa tìm chiếc gương phản chiếu để hoàn thiện bản thân mình. Trong cuộc đời ai cũng có những sai lầm, nhưng không phải ai và lúc nào cũng có thể nhận ra. Chỉ những ai thực sự tin vào tôn giáo mới ít phạm sai lầm. Tôn giáo giống như một tấm gương, vì vậy chúng ta cần một tấm gương để tấm gương đó phản chiếu chúng ta.

Tóm lại, để thành người “sống có chỗ gửi, thác có chỗ về” thì phải có tấm gương soi để nhắc nhở mình, có nơi gửi gắm thần hồn, có nơi nương tựa về tâm linh thì mới hoàn thiện mình. Đó là một hành trình tìm kiếm tâm linh chính là tìm lại chính mình. Vì vậy, Hầu đồng không có nghĩa là diễn xưởng đơn thuần, mà là quá trình chuyển hóa cái tâm mình từ cuộc sống vô minh, không có nhận thức được đúng sai thành trí tuệ, thành thánh đức để nhìn vào những tấm gương của các vị Chư Thánh, học theo Chư Thánh, khám phá đạo cơ; để cuộc sống đời thường được chuyển hóa mang đến hạnh phúc cho mình, cho người thân và những người xung quanh, giúp cho “Thân tâm thanh thản an lạc”. Trong đời sống xã hội, lễ Hầu đồng đã thể hiện truyền thống yêu nước, truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc thông qua những bài ca, diễn xướng lại những vị thánh nhân có trong truyền thuyết và lịch sử. Đó là những vị đã có công với dân, với nước. Qua đó cầu mong cho quốc thái, dân an.

Nghi thức Hầu đồng – bảo tàng sống của văn hóa Việt

Mỗi khi tiếng nhạc chầu văn vang lên trong không gian linh thiêng của đền, phủ, người dự hầu đồng như được bước vào một thế giới khác – vừa trang nghiêm, vừa huyền ảo. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả gọi nghi thức hầu đồng là “bảo tàng sống của văn hóa Việt Nam”. Bởi trong từng điệu múa, từng câu hát văn, người ta thấy hội tụ cả âm nhạc, văn học, múa dân gian, nghệ thuật hóa trang và tín ngưỡng tâm linh.

Chầu văn – linh hồn của nghi thức hầu đồng – không chỉ đơn thuần là nhạc đệm. Đó là cả một kho tàng văn chương dân gian phong phú, kết hợp lối hát kể chuyện, ca ngợi công đức các vị thánh thần, vừa tạo không khí linh thiêng, vừa dẫn dắt cảm xúc của người nhập đồng. Người hầu đồng, trong trạng thái thăng hoa, hóa thân vào từng nhân vật thánh thần, thể hiện bằng điệu múa, ánh mắt, nụ cười, động tác. Mỗi giá đồng là một câu chuyện, một nhân cách được tái hiện sống động, giúp người tham dự như chạm tới cõi giới siêu nhiên.

Nghi lễ hầu đồng diễn ra theo một trình tự chặt chẽ: từ mời Thánh giáng – giới thiệu thân thế, công đức của vị thánh; đến xin Thánh phù hộ – nơi con nhang đệ tử gửi gắm nguyện vọng; và kết thúc bằng tiễn Thánh hồi cung. Câu hát “Xe loan Thánh giá hối cung” không chỉ là thủ tục, mà còn là lời tri ân, khép lại một vòng kết nối thiêng liêng giữa con người và thần linh.

Nhạc cụ sử dụng trong hầu đồng – đàn nguyệt, nhị, sáo, trống ban, phách, thanh la – không chỉ tạo nhịp điệu, mà còn mang tính biểu tượng. Tiếng trống dồn dập như thúc giục thần linh giáng hạ, tiếng đàn ngân vang như lời gọi mời, tiếng phách rộn ràng như nhịp bước của thánh thần. Chính sự hòa quyện này tạo nên một không gian âm thanh mê đắm, khiến người tham dự dễ dàng bước vào trạng thái tâm linh đặc biệt.

Trong đời sống văn hóa, hầu đồng không chỉ thỏa mãn nhu cầu tâm linh, mà còn là một hình thức sinh hoạt cộng đồng. Người dân tham dự không đơn thuần là “xem”, mà là cùng hòa mình, chia sẻ niềm tin và ước nguyện. Đây cũng là lý do khiến nghi lễ tồn tại bền bỉ qua nhiều thế kỷ, bất chấp những biến động xã hội.

Tuy nhiên, cùng với giá trị tích cực, nghi thức hầu đồng ngày nay cũng đối diện nhiều thách thức. Bên cạnh những thanh đồng chân chính, giữ nghi lễ như một di sản thiêng liêng, vẫn tồn tại tình trạng thương mại hóa, vụ lợi. Có những “đồng giả, cốt giả” lợi dụng niềm tin của người dân để kiếm tiền, bóp méo ý nghĩa vốn có của nghi lễ. Khi niềm tin bị đặt sai chỗ, hầu đồng có nguy cơ bị nhìn nhận lệch lạc, thậm chí bị gán ghép với mê tín dị đoan.

Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết: phải phân biệt rạch ròi giữa hầu đồng – nghi lễ văn hóa tâm linh đích thực, với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng. Chỉ khi được thực hành đúng chuẩn mực, hầu đồng mới thực sự phát huy giá trị: vừa nuôi dưỡng đời sống tinh thần của cộng đồng, vừa khẳng định bản sắc văn hóa Việt Nam trong dòng chảy hội nhập toàn cầu.

Thực tế Hầu đồng hiện nay

Trước nay, những Thanh đồng và cả những người dự một buổi hầu đồng không phải ai cũng hiểu được cặn kẽ nét văn hóa tâm linh tin ngưỡng này. Hầu đồng hội tụ rất nhiều yếu tố và mang ý nghĩa sâu sắc. Từ giá trị đầu tiên là tri ân những người có công với đất nước, làng xã, nhân dân bản địa. Và đương nhiên khi tiến hành Hầu đồng thì cảm xúc phải là sự biết ơn và lòng cầu mong giá trị của vị thần, thánh có trong truyền thuyết hoặc trong lịch sử. Đó là những người có công bảo vệ nhân dân – đấy chính là giá trị đầu tiên. Người Hầu đồng luôn có ước vọng, nguyện cầu, mong muốn được che chở, được bảo vệ và mong ước cuộc sống bình an, hạnh phúc. Đồng thời gắn với cảm xúc cầu mong giải tỏa được những lo toan phiền não trong cuộc sống hiện tại. Trong một không gian linh thiêng và tôn nghiêm, con người mong được được các vị thánh thần che chở và bảo vệ. Khi Hầu đồng là nhập bóng của thần linh thì người ta muốn vị thần, thánh ấy giáng vào người ta, hoặc ngay lúc đấy có cảm xúc nào đó để vị thần, thánh ban bố, dạy bảo, hộ trì cho mình. Sau đó lại thay mặt thánh thần để mang lại niềm tin cho những người tham dự khóa Hầu đồng đấy. Do vậy, đối tượng của Hầu đồng là gồm những người khác nhau cùng tham gia. Nhiều năm qua, nghỉ thức Hầu đồng ngày càng phát triển với quy mô lớn và trở nên rắm rộ. Trong bối cảnh đó đã có không ít sự hỗn loạn và có nhiều ý kiến trái chiều về bảo tồn văn hóa phi vật thể hình thức Hầu đồng. Hiện nay, dạng thức Hầu đồng đã và đang bị lợi dụng, biến tướng. Chúng ta biết rằng những đối tượng tham gia Hầu đồng ngoài sự biết ơn thì họ còn đặt nhiều niềm tin vào các đấng siêu nhiên. Đây cũng là yếu tố mà đang bị những người lấy danh là ông đồng, bà cốt lợi dụng, bóp méo nghi thức Hầu đồng. Chính điều này đã làm ảnh hưởng xấu đến tín ngưỡng Thờ Mẫu, khiến cho nhiều người chỉ vì mê muội mà đặt niềm tin nhầm chỗ. Trong xã hội hiện nay đồng giả rất nhiều. Một số lợi dụng Hầu đồng để đạt được mục đích cuối cùng chỉ là giá trị vật chất. Ví dụ: Nhiều người họ ra “trình đồng” chỉ vì thua cờ bạc, đi buôn lậu cũng ra “trình đồng” để xin xỏ thần thánh. Nói chung, họ ra Hầu đồng để xin xỏ, cầu mong cho cả những việc làm vô lương tâm và bất chính…

Các biện pháp để bảo tồn, phát huy giá trị của tín ngưỡng Thờ Mẫu và phong tục Hầu đồng

Để ngăn chặn những biến tưởng của phong tục Hầu đồng đang gây ảnh hưởng xấu đến tín ngưỡng Thờ Mẫu, chúng ta cần phải có những chế tài cụ thể để xử lý những trường hợp làm biến dạng những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Nghi thức Hầu đồng Việt Nam phải bảo đảm được bản chất của Đạo Mẫu. Đây phải là nơi đưa nghi lễ lên đầu trong việc thờ Mẫu, nhằm phát huy được giá trị tâm linh và nghệ thuật của người Việt trong đời sống xã hội. Góp phần tích cực vào vào sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp. Chúng ta cần phải tăng cường công tác bảo tồn, gìn giữ truyền bá bằng phương pháp truyền dạy một cách thật bài bản, mang tính chuẩn mực của nghi thức Hầu đồng. Bởi nếu không có sự truyền dạy thì các di sản văn hóa khó có thể tồn tại trong tương lai và lưu lại cho thế hệ mai sau. Nghi thức Hầu đồng, lên đồng phải được thực hiện làm sao đúng với truyền thống, đúng với việc bảo tồn các giả Hầu. Phải được chuẩn mực từ không gian, trang phục, đạo cụ đến âm nhạc… Muốn làm được điều này thì cần phải tập hợp đội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học, các nghệ nhân dân gian để đi đến thống nhất những bài bản chuẩn, lề lối chuẩn cho nghỉ lễ Hầu đồng trước khi đưa ra truyền bá rộng rãi.

Trong những năm gần đây, trước sự đổi mới của đất nước, Nhà nước đã nhìn nhận, đánh giá tín ngưỡng Thờ Mẫu, trong đó có nghi lễ Hầu đồng là mảng văn hóa tâm linh cần phải được trân trọng và gìn giữ. Do vậy, muốn để xã hội tôn trọng tín ngưỡng Thờ Mẫu và nghi thức Hầu đồng hơn nữa thì bản thân mỗi chúng ta phải có trách nhiệm ngăn chặn những hiện tượng lợi dụng, thương mại hóa đối với nghi thức này. Chúng ta cần lên án mạnh mẽ những trường hợp lợi dụng tín ngưỡng, phong tục truyền thống của dân tộc để mưu lợi bất chính. Hãy trả lại nét đẹp thuần phong mỹ tục vốn có của Đạo Mẫu, của nghi lễ Hầu đồng. Tín ngưỡng Thờ Mẫu cùng nghi lễ Hầu đồng sẽ mãi trường tổn như một nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam. Xứng đáng là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được UNESCO thế giới công nhận.

(Tác giả:TS. danh dự Chu Bảo Quế – Ủy viên Ban Thường vụ, Phó Tổng Thư ký, Chủ tịch Hội đồng Chính sách và Phát triển Liên hiệp các Hội UNESCO Việt Nam)

Bài viết liên quan