Trong kho tàng di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam, hát chầu văn không chỉ là một loại hình âm nhạc nghi lễ đặc sắc gắn liền với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, mà còn là minh chứng sinh động cho sự giao thoa giữa nghệ thuật và tâm linh. Vừa mang giá trị thẩm mỹ bậc cao của âm nhạc dân gian, vừa là phương tiện kết nối con người với thần linh, hát chầu văn đã trở thành hồn cốt của nghi thức hầu đồng và là món ăn tinh thần không thể thiếu của cộng đồng. Qua giọng hát tài hoa của các cung văn, với hệ thống làn điệu phong phú, sự ngẫu hứng sáng tạo và khả năng tổng hòa âm hưởng nhiều vùng miền, loại hình diễn xướng này đã khẳng định sức sống bền bỉ, sức quyến rũ mạnh mẽ, góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam và tỏa sáng giá trị nhân văn trong đời sống đương đại.
Giọng hát lúc thăng, lúc trầm, lúc dồn dập theo từng cử động của mỗi vị Thánh khi nhập giá đồng. Lời văn có pha chút dân ca Đồng bằng Bắc Bộ, có âm hưởng của thính phòng dân gian, đệm thêm ca trù, chèo, có giọng của cải lương hay điệu hò Huế… và đặc biệt, cung văn vừa biểu diễn, vừa sáng tác, vừa nhìn thanh đồng để “đảo văn”, “nới văn” hay “biến điệu” cho khớp với hành động của vị Thánh khi nhập giá đồng.
Vừa biểu diễn, vừa sáng tác
Theo nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, người nhạc sỹ – nghệ sỹ biểu diễn của tín ngưỡng Tam phủ/ Tứ phủ trước hết và có tính tiên quyết, phải là người có giọng hát hay. Không có giọng hát hay không thể trở thành cung văn đích thực (nghệ sỹ bậc thầy). Bởi giọng hát hay của cung văn là chìa khóa mở cánh cửa cảm xúc, nối sợi dây rung cảm giữa người trình diễn (dâng văn) đến với người ngồi đồng.
Do vậy, để trở thành một cung văn có văn – nhạc song toàn, các nhạc sinh cung văn mới nhập môn phải nhận được sự dạy dỗ rất nghiêm chỉnh của các bậc thầy đi trước. Họ phải theo thầy học nhiều năm (học tại gia, học tại đền, học ngay khi hầu thánh), học để không chỉ thuộc lời văn, mà còn để biết vận dụng văn đúng lúc, đúng giá đồng khi Thánh giáng; học để chơi thành thạo đàn nguyệt, đàn nhị, sáo, học thành thạo bộ gõ (trống, phách, mõ, chuông, bập beng, kẻng) và đặc biệt phải biết hát, biết “nới văn” để khích lệ ông/bà đồng khi đang nhập thánh.
Hơn nữa, giọng hát hay là lực đẩy mạnh mẽ, nhanh chóng đưa người ngồi đồng vào trạng thái nhập đồng. Chuyện kể của con nhang Bùi Văn Tương (Ninh Bình) về cung văn Viễn được thanh đồng Tuệ hầu giá ông Hoàng Bảy (Bảo Hà, Lào Cai) thưởng đến 5 triệu tiền lộc. Chính là nhờ sự thăng hoa của cung văn khi dùng lời ca, tiếng nhạc làm cho thanh đồng thêm say đắm, hay nói như dân trong nghề thì, cung văn “nịnh đồng” rất hay.

Tuy nhiên, theo luận giải của Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan, nếu chỉ có giọng hát hay còn nhạc cụ đệm phải nhờ vào người khác cũng không đủ tiêu chuẩn của một cung văn thực thụ. Do đó, muốn trở thành cung văn, người nghệ nhân phải hội tụ đủ hai yếu tố cung và văn. Văn là nội dung tư tưởng dâng trình thánh, cung là biểu diễn các nội dung đó bằng âm nhạc. Khi Thánh về nhập đồng, Thánh hành động, cung văn lại bị cuốn hút ngược lại vào quá trình hành động của Thánh đang diễn ra trên thân xác của thanh đồng. Sự kích hoạt này, làm cho cách hát của cung văn thay đổi nhịp độ, nồng độ (tempo) liên tục theo hành vi của vị Thánh khi đã giáng nhập vào thanh đồng. Sự thay đổi tempo là nguyên nhân khiến cho cung văn phải tự đàn hát mới thực sự thỏa mãn sự hứng khởi cực thịnh của mình. Vì không tay đàn nào có thể theo kịp một cách hoàn hảo sự thay đổi tempo của cung văn khi dâng văn.
“Mặt khác, khi đàn hát cho thanh đồng, cung văn còn phải “đảo văn”, “nới văn”, “biến điệu”, thậm chí là thêm các thổ ngữ, thêm từ, thêm câu một cách ngẫu hứng để tạo thêm sự phong phú cho lời văn và gây thêm sự hưng phấn cho thanh đồng. Sự sáng tạo ngẫu hứng trong lúc hầu Thánh đó, buộc cung văn phải vừa làm nhạc công, vừa làm ca sỹ mới có thể đáp ứng kịp nhu cầu sáng tạo ngẫu hứng tức thì của mình khi hát”, Nhà nghiên cứu Đặng Hoành Loan nhấn mạnh.
Đạt tầm cao về tính thẩm mỹ, nghệ thuật
Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Bùi Trọng Hiền, trước hết, cần phải thấy rằng nghệ thuật âm nhạc trong hát văn với hệ thống kỹ thuật biểu hiện phức tạp đã đạt tới tầm cao của một thể loại chuyên nghiệp trong nền âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam.
Ở đây, dường như chúng ta có thể cảm nhận được rằng không có một thể loại âm nhạc tôn giáo tín ngưỡng nào ở Việt Nam đạt được tầm cao về tính thẩm mỹ nghệ thuật như hát văn. Trong đó, chúng ta tìm thấy sự phát triển tột bậc cả về làn điệu âm nhạc cũng như hệ thống kỹ thuật biểu cảm của nhạc thanh.
Trong nghệ thuật hát văn không thể không nói đến hệ thống làn điệu phong phú, tinh tế, biểu cảm nhiều sắc thái tình cảm của con người thông qua bóng dáng của chư vị thánh thần. Trong đó, hình thành nhiều làn điệu mang tính chuyên dùng khá cao thể hiện những vai vế, tính cách và giới tính riêng biệt. Với sự đề cao những mô hình tiết tấu có tính chu kỳ, âm nhạc hát văn tựa như những vũ điệu của thánh thần, dìu dặt và mê hoặc lòng người. Cả cung văn và các con nhang đệ tử như tỉnh như say trong sự hòa quyện đồng điệu. Giai điệu tiếng đàn, giọng hát chầu văn có sức quyến rũ đặc biệt. Dập dìu trên nền nhịp phách lúc ẩn lúc hiện, nhiều làn điệu mang đậm tính trữ tình, như dáng vẻ của những gì ngọt ngào, mềm mại, thân thương của nữ tính – của Mẹ – Thánh Mẫu trong hệ thống thần điện Tam phủ/ Tứ phủ của người Việt.
Tổng hòa âm hưởng nhiều loại hình dân ca
Theo nhà nghiên cứu văn hóa Trần Hải Minh, hát văn gồm sáu nhóm làn điệu chính: Nhóm bỉ, nhóm dọc, nhóm cờn, nhóm phú, nhóm xá, nhóm nhịp một và một vài làn điệu dân ca được chầu văn hoá.
Các điệu bỉ phần lớn tiết tấu, trường độ không rõ ràng. Âm nhạc mang tính ngâm ngợi, tự do. Điệu bỉ thường được dùng ở phần đầu của các bản văn hát thờ, văn thi hoặc được dùng trong các đoạn nối tiếp giữa các làn điệu, cũng có khi điệu bỉ được dùng để chuyển sang một làn điệu khác như bỉ chim thước ở giá Cậu, bỉ thơ ở giá ông Hoàng.
Các điệu dọc, âm nhạc khúc triết, kết cấu rõ ràng. Các làn điệu dọc thường được dùng ở các giá quan lớn, giá ông hoàng, giá các cô (đồng bằng), giá cậu khi hầu đồng.
Các điệu cờn được phân ra làm hai loại: cờn xuân tính chất âm nhạc trữ tình tự sự, giai điệu mượt mà. Cờn oán có tính chất buồn ai oán nên được sử dụng trong hát văn thi, văn thờ, nhất là các bản văn mẫu.
Các điệu phú âm nhạc chậm rãi ngâm ngợi, tính chất thanh cao, nhịp điệu tự do. Bởi tính chất tự do, nên phú chỉ hát đơn chứ không hát đôi. Các điệu phú thường được dùng trong hát văn các giá hàng Quan, ông Hoàng, Mẫu, Trần Triều và dùng cho các giá Nam Thần.
Các điệu xá có tiết tấu nhanh, vui, tính chất trữ tình, tự sự, thay đổi đột ngột, nhịp điệu tự do. Vì vậy các điệu xá thường không hát hai người. Mỗi khổ của điệu xá thường gồm ba câu lục bát hát theo lối gối khổ (lặp lại câu văn trước, nối với câu văn sau theo một cấu trúc, trình tự nhất định).
Các điệu nhịp một, vui khoẻ, mạnh mẽ, nhấn ở đầu nhịp, tạo nên tiết tấu rõ ràng thường dùng miêu tả động tác múa trong hầu đồng, như: múa mồi, hái hoa, múa quạt miêu tả đời sống lao động như quẩy lẵng hoa, quả… Các điệu này, thường chỉ dùng trong các bản văn Thánh, như các giá chầu Bà, các giá Cô, theo nghi lễ hát thờ, văn Mẫu… Điệu này không dùng trong các hàng quan lớn.
Tùy theo ý nghĩa của từng đoạn cung văn mà các làn điệu được sắp xếp cho phù hợp thường là điệu bỉ bao giờ cũng được dùng để mở đầu, sau đó đến điệu miễu, điệu thống.

Bên cạnh những làn điệu có tiết tấu rõ ràng, tính chất âm nhạc trong sáng mượt mà như: Làn điệu cờn, dọc, xá bằng, xá thượng, nhịp một, chèo đò, lới lơ, cò lả, điệu lưu thuỷ, điệu kim tiền… thì ở âm nhạc hát văn, tính chất dân gian thể hiện rất rõ trong cấu trúc kết cấu giai điệu. Khó có một thể loại âm nhạc dân gian nào lại thu hút vào nó nhiều âm hưởng của các loại hình dân ca khác nhau đến như vậy.
Qua nghiên cứu ta thấy ở hát văn có ảnh hưởng của dân ca Đồng bằng Bắc bộ, như các làn điệu bồng mạc, sa mạc, cò lả. Có ảnh hưởng của âm nhạc thính phòng dân gian như: Hành vân, ngũ đối, kim tiền, lưu thuỷ, bình bán…; có ảnh hưởng của ca trù như các làn điệu bỉ, phú nói, phú bình, phú chênh, phú xuân, phú tỳ bà, phú cửa đình, phú hạ. Có ảnh hưởng của chèo như phú dầu, lới lơ; của quan họ với các làn điệu như đường trường chim thước; ảnh hưởng của cải lương như xá quảng (ảnh hưởng của âm nhạc và dân ca Quảng Đông, Trung Quốc); ảnh hưởng của tuồng như kiều dương thượng; ảnh hưởng của dân ca miền núi các tỉnh phía nam như dân ca xê đăng; ảnh hưởng của dân ca Huế như hò Huế, hò nhịp một, cờn Huế…
Việc thu hút những yếu tố âm nhạc của nhiều vùng, nhiều địa phương trong hát văn không chỉ làm cho âm nhạc tín ngưỡng thờ mẫu thêm phong phú, giàu màu sắc mà còn giúp cho tín ngưỡng này có điều kiện thâm nhập, phổ biến nhanh chóng, sâu rộng trên một địa bàn rộng lớn ở khắp ba miền Trung, Nam, Bắc, cả miền núi lẫn miền xuôi.
Hồn cốt của hầu đồng
Nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Bùi Trọng Hiền từng đề cập trong cuốn Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt – Những công trình nghiên cứu (Nhà xuất bản Thế giới, 2019) rằng, hát văn đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phụ trợ, kích thích sự thăng hoa, giao thoa giữa con nhang đệ tử với thần linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đây là mối quan hệ hữu cơ giữa một thể loại âm nhạc và một hình thức tín ngưỡng. Nghệ thuật âm nhạc dường như là một thứ phương tiện không thể thiếu khi con người muốn giao tiếp với thần linh trong Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Đó vốn là lẽ thường từ thủa hồng hoang của xã hội loài người. Thế nhưng, để trở thành một thành tố đóng vai trò quan trọng trong tín ngưỡng với trữ lượng lớn cả về số lượng và chất lượng nghệ thuật như hát văn thì có lẽ điều này xưa nay hiếm!
Đã 24 năm trong nghề, Cung văn Nguyễn Văn Năm (Ninh Bình) chia sẻ: “Vai trò của âm nhạc trong hầu đồng rất quan trọng. Ở đây chính làn điệu lời ca, tiếng nhạc là để thỉnh các Thánh về nhập vào thanh đồng. Có thể nói âm nhạc là yếu tố then chốt tạo nên sự hoàn hảo của diễn xướng Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt”.
Nhìn vào tín ngưỡng Tam phủ/ Tứ phủ, có thể thấy ngay vai trò nổi bật của âm nhạc hát Văn. Ở đây, hầu như toàn bộ các giá trị đều tập trung ở hình thức nghệ thuật âm nhạc – âm nhạc hát văn ngoài việc thỉnh Thánh, “nịnh đồng”,… còn có nhiệm vụ chuyển tải nội dung văn học trong các trình thức diễn xướng mang tính đặc thù này.

Món ăn tinh thần của người Việt
Theo những “con nhang” lớn tuổi kể lại, trường hợp rủ nhau từng nhóm 7 – 8 người đi xem hầu đồng, hay các cô gái trẻ bỏ nhà đi theo anh cung văn là hiện tượng không hiếm.
Về chuyện này hãy nghe Nhà văn Nguyễn Dậu (1970, Tiếng hát, giọng hát chầu văn, đăng trên Tạp chí Văn hóa, số tết), ông kể lại: “… lúc còn thơ dại, sống trong một xóm thợ khốn đốn bên cạnh nhà máy xi măng Hải Phòng, tối nào tôi cũng lội qua đầm Thượng Lý, chui qua hàng rào xương rồng, tả xung hữu đột với đàn chó dữ, rồi mon men đến trước cửa đình của mụ đồng Cao, mụ ký Cách, mụ cai Điền mà mê mẩn nghe hát suốt đêm. Tôi nghe. Tôi ngắm. Tôi thèm thuồng và ước ao sao cho mình sau này trở thành một bác cung văn có đôi môi lem lẻm nhường kia. Người lớn trong xóm thợ thường nói rằng dân cung văn nó quyến gái đi như gió quyến lá. Điều đó hình như cũng có. Một bà dì, em mẹ tôi, cũng vì say đắm cái điệu tích tịch tình tang ứ ư… kia mà bỏ làng Cam Lộ đi biệt tích. Kế đó thì thiên hạ có đồn rằng đâu như thấy dì tôi cùng với một bác cung văn sứt răng cửa đàn hát tại vùng đền Sòng Phố Cát… Ông bà tôi buồn bực. Còn tôi, lạy thánh mớ bái, chứ cái hồi bé dại ấy, tôi lại mừng cho dì tôi”.
Có lẽ, nhờ Nhà văn Nguyễn Dậu, tôi mới lý giải được những băn khoăn từ khi dự lễ hầu đồng tại đền Cô Bơ (Thanh Hóa), đền Cô Ba Nhà Gác (Hòa Bình), chùa Bàn Long (Ninh Bình), đền Bảo Lộc (Nam Định),… hay ở một nơi nào đó. Là thường có một cô gái trẻ xinh đẹp hay ngồi trò chuyện thân mật cùng một số bác cung văn. Lúc đầu cứ tưởng đó là người phụ giúp, nhưng khi được nghe cung văn hát, rồi nghe Nhà văn Nguyễn Dậu mô tả và được nghe các cụ cao tuổi trong làng kể lại, tôi mới hiểu được cái hay, cái đắm đuối của hát văn như thế nào. Và có lẽ cô gái mà tôi nhìn thấy trong những lần hầu đồng kia cũng bị quyến đi như vậy?
Chia sẻ với Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng, ông Trần Văn Hoàng (Ninh Bình) cho biết, xem hầu đồng, đặc biệt là âm nhạc, nó làm cho tôi cảm thấy khoan khoái tinh thần, quên đi những mệt mỏi trong cuộc sống hàng ngày. Chúng tôi có nhóm khoảng chục người, hễ ai biết chỗ nào có lễ hầu đồng, sắp xếp công việc, thời gian là rủ nhau đến xem. Không chỉ xem biểu diễn ở đền, phủ, các bài hát chầu văn là thể loại âm nhạc chính tôi thường nghe ở nhà.
Có thể nói, hiện tượng đó là một minh chứng hùng hồn cho sức quyến rũ của hát văn. Ở đây, chúng tôi cho rằng sức quyến rũ của âm nhạc chính là một lực hấp dẫn quan trọng thu hút công chúng đến với tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ/ Tứ phủ của người Việt.
Ở góc độ khác, Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Văn Thư, chia sẻ rằng: Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt khẳng định những giá trị nổi bật của di sản, góp phần tăng cường vị trí, vai trò của di sản văn hóa đối với đời sống xã hội, làm giàu thêm bức tranh đa dạng văn hóa của Việt Nam và nhân loại. Đồng thời, cũng nhắc nhở chúng ta nâng cao nhận thức và tầm nhìn về giá trị của Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ đối với xã hội. Ở lĩnh vực tâm linh, văn hóa, nghệ thuật, vấn đề ứng xử và tôn vinh người Mẹ, những người có công với dân với nước. Biểu tượng của tình yêu bao la, sự bao dung, che chở của người Mẹ, từng lời ca, tiếng nhạc có ý nghĩa thiết thực trong sự kết nối giữa những cá nhân, nhóm người, cộng đồng người Việt ở trong nước, hải ngoại và các dân tộc khác trên thế giới.
Cùng quan điểm này, Tiến sĩ Trần Hải Minh, nhận định: Nhìn từ góc độ văn hoá, thông qua nội dung các bài chầu văn, đã làm thức dậy trong ta lòng biết ơn, tưởng nhớ tới những người có công với đất nước. Từ đó có ý thức, trách nhiệm trong việc nối tiếp, gìn giữ truyền thống của ông cha ta để lại. Đồng thời giáo dục thế hệ trẻ kế thừa và phát huy, với đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Mặt khác, nghi thức hầu đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng sinh hoạt tín ngưỡng – văn hoá đang diễn ra một cách sống động trong đời sống hàng ngày của nhân dân ta. Nó đáp ứng nhu cầu không chỉ đời sống tâm linh mà còn cả đời sống nghệ thuật. Thực ra, linh cảm và mỹ cảm không tách rời nhau mà gắn bó mật thiết, cái nọ làm tiền đề cho sự nảy nở và tồn tại của cái kia. Đến với tín ngưỡng Mẫu, thông qua các ông đồng, bà đồng, giao tiếp với Thánh Mẫu để thoả mãn cầu may, ước vọng của mình, là đức tin vào sự thiêng liêng, phù hộ độ trì của Thánh Mẫu đối với con người.
Tín ngưỡng Thờ Mẫu, khác biệt cơ bản với các tôn giáo tín ngưỡng khác là không hướng về đời sống bên kia sau cái chết mà là đời sống thực tại với ước vọng sức khoẻ, tài lộc và may mắn. Đó là ước vọng mang tính huyền bí và hấp dẫn với tất cả mọi người ở mọi thời đại. Song hành với đó là diễn xướng hầu đồng, mà thể loại âm nhạc thiêng (hát chầu văn) cũng tồn tại và ngấm sâu vào tâm trí người Việt.
Nhất Nam


