LỜI GIỚI THIỆU
Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ của người Việt, được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (năm 2016), không chỉ là một thực hành tín ngưỡng đặc sắc mà còn chứa đựng chiều sâu lịch sử, nghệ thuật và bản sắc văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong môi trường giáo dục là nhiệm vụ cấp thiết, giúp thế hệ trẻ thấu hiểu, tự hào và tiếp nối truyền thống. Dự án “Xây dựng chương trình giáo dục di sản Thờ Mẫu Tam Phủ” được định hướng triển khai như một mô hình kết nối chủ thể di sản – nhà nghiên cứu – cơ sở giáo dục – cộng đồng, nhằm tạo ra môi trường học tập gắn với trải nghiệm, vừa đảm bảo tính khoa học, vừa giàu tính truyền thống.

NỘI DUNG
- Mục tiêu và ý nghĩa giáo dục
- Giữ gìn di sản sống: Thờ Mẫu Tam Phủ là kho tàng kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật (âm nhạc, múa, trang phục, mỹ thuật), qua đó giáo dục học sinh về mỹ cảm và di sản văn hóa phi vật thể.
- Bồi dưỡng nhân cách: Thông qua các giá trị như lòng biết ơn tổ tiên, sự tôn trọng thiên nhiên và tinh thần đoàn kết cộng đồng.
- Phát triển năng lực và kỹ năng sống: Khuyến khích học sinh tìm hiểu, nghiên cứu, thuyết trình, làm việc nhóm và sáng tạo sản phẩm học tập từ di sản.
- Kết nối chủ thể và chuyên gia
- Hợp tác với nghệ nhân, cung văn, nhà nghiên cứu, bảo tàng, ban quản lý di tích để đảm bảo tính xác thực và sinh động.
- Cơ chế cố vấn: Thành lập Hội đồng học thuật – cộng đồng tại địa phương, bao gồm đại diện nhà trường, phụ huynh, thiết chế văn hóa, chính quyền.
- Nguồn tư liệu chính thống: UNESCO, Cục Di sản Văn hóa, Sở VHTTDL, thư viện địa phương, kết hợp với tư liệu điền dã và ghi chép truyền khẩu.
- Lộ trình triển khai (3 giai đoạn – 36 tháng) Giai đoạn 1 – Thí điểm (0-12 tháng)
- Lựa chọn 3 địa bàn: Nam Định (Phủ Dầy), Hà Nội (Phủ Tây Hồ), một tỉnh trung du – miền núi có thực hành thờ Mẫu tiêu biểu.
- Soạn bộ tài liệu thí điểm theo Hướng dẫn 73 của Bộ GD&ĐT; đào tạo 60 giáo viên nòng cốt; xây dựng kho tư liệu số của trường (hình ảnh, video, ghi âm, bản đồ di sản).
Giai đoạn 2 – Mở rộng (13-24 tháng)
- Mỗi tỉnh/thành chọn tối thiểu 2 trường phổ thông và 1 cơ sở giáo dục thường xuyên; liên kết với 1 trường đại học/cao đẳng.
- Tổ chức Tuần lễ Di sản địa phương: triển lãm – diễn xướng giới thiệu phiên bản giáo dục (không nghi lễ), trưng bày trang phục, nhạc cụ, hình ảnh minh họa.
Giai đoạn 3 – Chuẩn hóa – Thể chế hóa (25- 36 tháng)
- Tích hợp mô-đun “Thờ Mẫu Tam Phủ” vào Hoạt động Giáo dục địa phương (HĐGDĐP) và câu lạc bộ ngoại khóa.
- Ban hành “Bộ công cụ dạy – học Thờ Mẫu Tam Phủ” cho bậc phổ thông; xây dựng gợi ý đề cương học phần ở bậc đại học, kết hợp học liệu số. 4. Nguồn lực và kinh phí (gợi ý cấu phần)
- Phát triển học liệu: Biên soạn – biên tập – thiết kế (ấn phẩm, video, trải nghiệm 360°).
- Tập huấn và tọa đàm: Mời chuyên gia, nghệ nhân; chi phí điền dã – giám sát; hỗ trợ chi phí lưu trú cho chuyên gia.
- Chuyển đổi số: Thiết bị ghi âm/ghi hình, lưu trữ, nền tảng trưng bày số; mã QR tại các di tích liên quan.
- Thực địa – tham quan: Vận chuyển, bảo hiểm, vé tham quan; tổ chức các chuyến “học ngoài lớp” đến di tích
KẾT LUẬN
Giáo dục di sản Thờ Mẫu Tam Phủ trong nhà trường và cộng đồng là một hướng đi bền vững để di sản không chỉ tồn tại trong sách vở hay nghi lễ, mà còn trở thành một phần sống động của đời sống học đường. Khi được triển khai đúng cách, học sinh không chỉ “biết” về một tín ngưỡng dân gian, mà còn “cảm” và “hành động” để bảo tồn di sản. Dự án kỳ vọng tạo ra mô hình mẫu cho giáo dục di sản phi vật thể, góp phần nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc và ý thức gìn giữ di sản cho thế hệ mai sau.
Tài liệu tham khảo:
- UNESCO (2016). The Vietnamese practice of Mother Goddess Worship. [Online]
- Cục Di sản Văn hóa – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Hướng dẫn thực hiện giáo dục di sản trong trường phổ thông (Hướng dẫn số 73/ HD-BVHTTDL-BGDĐT, 2015).
- Ngô Đức Thịnh (2010). Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam. NXB Tôn giáo. 4. Nguyễn Thị Hiền (2018). Thực hành nghi lễ và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể. NXB KHXH
TS. NNƯT. Đồng Thầy Nguyễn Đức Hiển
(Theo Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 1/2025)



