Hòa quang đồng Trần – Triết lý nhân văn trong quản trị văn hóa, tín ngưỡng mùa xuân mới

Mùa xuân mới của dân tộc đang về trong hơi thở tuần hoàn của đất trời và chiều sâu lịch sử. Cùng với nhịp chuyển mình của thiên nhiên, đời sống văn hóa – tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam lại được khơi dậy như một mạch nguồn bền bỉ của niềm tin, đạo lý và sự cố kết cộng đồng. Xuân không chỉ là thời khắc giao mùa, mà còn là dịp để nhìn lại những giá trị đã hun đúc nên bản lĩnh dân tộc, đồng thời định hướng cho những bước đi mới của đất nước trong chặng đường phát triển phía trước.

Xuân Bính Ngọ 2026 diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt: toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang nỗ lực thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đã được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đây cũng là thời điểm hệ thống chính trị, nhất là chính quyền cơ sở, tiếp tục được củng cố và kiện toàn nhằm đáp ứng yêu cầu quản trị xã hội ngày càng cao trong giai đoạn phát triển mới. Trong dòng chảy ấy, việc củng cố niềm tin xã hội, phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa, xử lý hài hòa các vấn đề tín ngưỡng – tôn giáo trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần có những nguyên lý quản trị mang tính mềm dẻo, nhân văn, thấm đẫm truyền thống dân tộc nhưng vẫn phù hợp với điều kiện hiện đại. Một trong những giá trị tư tưởng truyền thống tiêu biểu của dân tộc, đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự, chính là tinh thần “hòa quang đồng trần” – một triết lý đã xuất hiện từ thế kỷ XIII.

“Hòa quang đồng trần” có nguồn gốc từ triết học phương Đông, hàm ý rằng người có trí tuệ không phô trương ánh sáng của mình để đối lập với cuộc đời, mà hòa ánh sáng ấy vào đời sống thường nhật. Khi được Phật giáo Đại thừa tiếp thu và Việt hóa, tư tưởng này đã trở thành một triết lý sống và hành động mang đậm tinh thần nhập thế, gắn đạo với đời, tu hành với phụng sự xã hội.

Trong lịch sử Việt Nam, tinh thần ấy được thể hiện rõ nét nhất qua Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần, do Phật hoàng Trần Nhân Tông sáng lập. “Hòa quang” là giữ vững trí tuệ và đạo hạnh; “đồng trần” là sống giữa nhân dân, giữa những lo toan của đời sống thực tiễn, nhưng không để bản thân bị cuốn theo danh lợi tầm thường. Tinh thần “cư trần lạc đạo”, “Phật tại tâm” cho phép con người tu tập và hành đạo ở bất cứ đâu: nơi triều đình, ngoài chiến trận hay giữa chợ đời.

Trần Nhân Tông Trần Thái Tông Hà Huy Thắng
Phóng tác tranh “Trúc lâm đại sĩ xuất sơn chi đồ”.Tranh sơn dầu, tác giả: Hà Huy Thắng

“Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền”.

Chính nhờ tinh thần nhập thế ấy, Phật giáo thời Trần không tách rời vận mệnh dân tộc, mà trở thành một nguồn lực tinh thần quan trọng trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đây là minh chứng sinh động cho khả năng dung hòa giữa giá trị tinh thần và yêu cầu thực tiễn, giữa lý tưởng đạo đức và trách nhiệm xã hội.

Nhìn rộng ra chiều dài lịch sử, từ thời Trần đến thời đại Hồ Chí Minh, có thể nhận thấy một mạch tư tưởng xuyên suốt: không đối lập đạo và đời, không cực đoan trong xử lý niềm tin, mà dung hòa, dẫn dắt và chuyển hóa. Trong hệ tư tưởng Hồ Chí Minh, dù Người không trực tiếp sử dụng thuật ngữ “hòa quang đồng trần”, nhưng tinh thần của triết lý này lại được thể hiện sâu sắc qua lối sống giản dị, phong cách gần dân và quan niệm lấy dân làm gốc.

Nếu Trần Nhân Tông thể hiện tư tưởng “trọng dân” bằng sự khoan hòa với nhân dân và nghiêm minh với quan lại, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát triển tư tưởng ấy lên tầm cao của một nhà nước hiện đại: coi niềm tin của nhân dân là nền tảng của sức mạnh quốc gia, coi sự đồng thuận xã hội là điều kiện tiên quyết của mọi thắng lợi cách mạng.

Trong bối cảnh hiện nay, đời sống tín ngưỡng – tôn giáo ở nước ta ngày càng đa dạng, phản ánh nhu cầu tinh thần phong phú của nhân dân. Bên cạnh những giá trị tích cực, cũng xuất hiện những biểu hiện lệch chuẩn như mê tín trá hình, thương mại hóa tâm linh, lợi dụng tín ngưỡng vì mục đích cá nhân. Thực tiễn cho thấy, cách tiếp cận quản lý thuần túy hành chính, cứng nhắc dễ gây phản ứng xã hội; trong khi buông lỏng quản lý lại tiềm ẩn nhiều hệ lụy phức tạp.

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập một cách nhìn mới về văn hóa: văn hóa là nguồn lực nội sinh, là hệ điều tiết các giá trị và niềm tin xã hội. Trong tinh thần đó, “hòa quang đồng trần” có thể được vận dụng như một nguyên lý quản trị văn hóa – tín ngưỡng: không đối đầu, không cực đoan, mà kiên trì dẫn dắt; không chỉ kiểm soát hành vi, mà chú trọng bồi đắp hệ giá trị; kết hợp hài hòa giữa pháp luật và phong tục, giữa quản lý nhà nước với vai trò của cộng đồng, người uy tín và các chức sắc tôn giáo.

Đối với đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ ở cấp xã, phường – nơi trực tiếp tiếp xúc với nhân dân và xử lý các vấn đề văn hóa, tín ngưỡng hằng ngày – tinh thần “hòa quang đồng trần” càng có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Đó là phương châm để gần dân, hiểu dân, tôn trọng niềm tin chính đáng của nhân dân, đồng thời kiên quyết giữ vững kỷ cương pháp luật và định hướng giá trị xã hội.

Xuân Bính Ngọ 2026 cũng là dịp để gửi gắm niềm tin và sự động viên tới đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân cả nước. Trong không khí hân hoan chào mừng thành công của Đại hội Đảng lần thứ XIV, việc phát huy truyền thống văn hóa, củng cố niềm tin xã hội, tăng cường sự đồng thuận giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Với ánh sáng của trí tuệ và truyền thống, tinh thần “hòa quang đồng trần” tiếp tục soi rọi con đường phía trước: gắn bó với nhân dân, hòa mình vào đời sống xã hội, nhưng vẫn giữ vững bản lĩnh, giá trị và lý tưởng. Đó cũng chính là nền tảng để đất nước ta vững bước đi lên trong mùa Xuân mới – mùa Xuân của niềm tin, đoàn kết và khát vọng phát triển bền vững.

Đại tá Hà Huy Thắng, Bí thư Chi bộ, Phó Viện trưởng Thường trực Viện Nghiên cứu các vấn đề về Tôn giáo và Tín ngưỡng.

(Theo Đặc san Tôn giáo và Tín ngưỡng số 1/2026)

Bài viết liên quan