ThS Nguyễn Đức Dũng, Phó Viện trưởng
Viện Chiến lược và Chính sách Dân tộc – Tôn giáo
Học Viện Dân tộc, Bộ Dân tộc và Tôn giáo.
1. Sơ lược về tín ngưỡng thờ Mẫu tại Việt Nam
“Tín ngưỡng thờ Mẫu gắn liền với nhiều hình tượng người phụ nữ là các nhân vật lịch sử hoặc được lịch sử hóa như Thánh mẫu Liễu Hạnh, Quốc mẫu Âu Cơ, Vương Mẫu (tương truyền là người mẹ của Thánh Gióng), Linh Sơn Thánh Mẫu.
Trên nền tảng của tín ngưỡng thờ nữ thần, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, một hình thức thờ cúng người mẹ hóa thân ở các miền trời, sông nước, rừng núi, hình thành và phát triển mạnh mẽ. Từ thế kỷ XVI, việc thực hành tín ngưỡng này trở thành một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội và tâm thức người dân. Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ cúng cùng với các vị Thánh Mẫu cai quản miền trời, rừng, nước, những nhân vật lịch sử hoặc huyền thoại có công với nước, với dân.
Theo thư tịch và huyền thoại, Bà là tiên nữ giáng trần, làm người, rồi qui y Phật giáo và được tôn vinh là “Mẫu nghi thiên hạ”, một trong bốn vị thánh bất tử của người Việt. Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt là sự hỗn dung tôn giáo bản địa của người Việt và một số yếu tố của tôn giáo du nhập như Đạo giáo, Phật giáo. Các Thánh Mẫu, các vị thần trong điện thần tam phủ có nguồn gốc không chỉ của người Kinh, mà còn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam như người Mường, Tày, Nùng, Dao, v.v. thể hiện sự giao lưu văn hóa, mối quan hệ bình đẳng, gắn bó mật thiết giữa các dân tộc ở Việt Nam.

Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt phân bố ở nhiều địa phương: Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, và thành phố Hồ Chí Minh mà Nam Định được coi là trung tâm với gần 400 điểm thờ cúng Thánh Mẫu. Thông qua việc kết hợp một cách nghệ thuật các yếu tố văn hóa dân gian như trang phục, âm nhạc, hát chầu văn, múa, diễn xướng dân gian trong lên đồng và lễ hội, Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ như một “bảo tàng sống” lưu giữ lịch sử, di sản và bản sắc văn hóa của người Việt. người Việt thể hiện quan niệm của mình về lịch sử, di sản văn hóa, vai trò của giới và bản sắc tộc người. Sức mạnh và ý nghĩa của Thực hành Tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ chính là đáp ứng nhu cầu và khát vọng của đời sống thường nhật của con người, cầu tài, cầu lộc, cầu sức khỏe” *
* Nguồn Báo VietNamNet; http://Vietnamnet.vn ngày 01/12/2016.
2. Một số vấn đề cần quan tâm
Một nghi thức tín ngưỡng mang đậm văn hóa truyền thống như thờ Mẫu, nhưng lại gây ra nhiều tranh cãi, đôi khi bị nói là hoạt động “mê tín dị đoan”, nhất là trong chuyện hầu đồng, hầu bóng.
Bởi vì ranh giới giữa tín ngưỡng và chuyện “buôn thần bán thánh” là rất mong manh. Nhiều khi cũng là thực hành tín ngưỡng, chỉ với lễ đơn sơ, thành tâm là được. Nhưng nhiều người lại làm quá xa hoa, cầu ước những điều không hợp đạo lý, hoặc làm biến dạng nghi lễ để thu tiền.. thì đó lại là sự biến tướng, mê tín dị đoan hoặc là các hoạt động trục lợi. Ví như thời nay không phải ai cũng biết cách hát chầu văn để mà hầu đồng, hầu bóng. Rồi đến với Thờ Mẫu nhiều khi cũng là cái duyên, nhưng bây giờ có không ít người dựa vào điều đó để mở phủ, hầu đồng chỉ cốt kiếm tiền trên niềm tin tín ngưỡng. Điều đó là không nên và cần lên án.
2.1. Trong những năm gần đây, tín ngưỡng thờ Mẫu nói chung và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ nói riêng ngày một được phục hồi và phát triển mạnh mẽ bởi nhiều nguyên nhân. Theo thống kê sơ bộ hiện nay ở nước ta có khoảng gần 10 ngàn cơ sở thờ Mẫu bao gồm: Phủ, đền, các cụm, quần thể công trình tín ngưỡng, tôn giáo có thờ Mẫu. Ngoài ra còn có số lượng khá lớn điện, đền thờ tư gia có thờ Mẫu gắn với người chuyên hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu (thanh đồng, cung văn, pháp sư, thầy cúng). Tại Hà Nội hiện nay đã có hơn 200 đền, phủ và gần 1000 cung, điện thờ Mẫu (thường gắn với chùa) và hơn 1000 điện thờ tư gia. Dự báo số cơ sở thờ Mẫu sẽ có xu hướng tiếp tục tăng trong những năm tiếp theo, các hoạt động thờ Mẫu diễn ra theo nhiều xu hướng khác nhau, có cả tích cực và hạn chế. Ngoài những di tích có lịch sử lâu đời thì số lượng điện thờ Mẫu tại các gia đình vẫn tiếp tục tăng do người tham gia tín ngưỡng thờ Mẫu liên tục “trình đồng mở phủ”.
Việc tổ chức hầu đồng không đúng không gian tâm linh, ở khu vực công cộng với tính chất một loại hình du lịch hay ca nhạc đường phố; sử dụng nhiều vàng mã và đồ lễ đắt tiền để chia, phát lộc trong lễ hầu đồng. Hay việc xưng danh nhà Thánh để tổ chức những khoá lễ với giá cao, gây ảnh hưởng tâm lý đến người khác.
Không ít người mới “thử đồng” hoặc thực hành tín ngưỡng được hai, ba năm, chưa đủ uy tín trước cộng đồng bản hội đã “tự phong là đồng thầy”.
Sai lầm hơn nữa là khi việc Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ được coi như một nghề, lợi dụng lòng tin của mọi người để thu lợi cá nhân, tức là “thương mại hóa” di sản.
Ðiều này không chỉ khiến giới nghiên cứu, mà bản thân những người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu lâu năm cũng hết sức băn khoăn.
Hoạt động có sự biến tướng, “hiện đại” trong thực hành là một xu hướng khá nổi bật hiện nay. Điển hình là thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu đang được diễn ra ở nhiều nơi không phải cơ sở thờ tự, sân khâu hóa trong thực hành, thương mại hóa, trục lợi trong hoạt động… điều đó khiến cho nghi thức thờ tự bị biến dạng, tác động xấu tới công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Tình trạng sân khấu hóa nghi thức thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu một cách tùy tiện trong thời gian gần đây cũng gây nên sự lo ngại trong cộng đồng, đặc biệt là về nguy cơ làm biến đổi, sai lệch, mai một bản sắc di sản nếu cơ quan quản lý về tín ngưỡng tôn giáo và văn hóa không có hướng dẫn và chế tài xử lý hiệu quả.
Ở nhiều nơi, để hợp thức hóa việc tổ chức hầu đồng, người ta đưa những vị thánh không có trong tín ngưỡng thờ Mẫu vào phối thờ, làm thay đổi tính chất của di tích. Việc thực hành không đúng nghi thức, trang phục, âm nhạc hiện đại hóa… làm mất đi vẻ đẹp tín ngưỡng thờ Mẫu cổ truyền.
2.2. Để ngăn chặn những biến dạng di sản, đầu năm 2018 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có công văn chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương chỉ cho phép “tổ chức hầu đồng ở những nơi có điện thờ hoặc di tích thờ Mẫu, không tổ chức nghi lễ ở khu vực công cộng với tính chất của một loại hình dịch vụ du lịch hay hoạt động âm nhạc đường phố”.
Vấn đề Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu không đúng nguyên tắc, không đúng không gian; trao danh hiệu và các hoạt động giao lưu trình diễn tín ngưỡng ồ ạt, tùy tiện đã và đang diễn ra tại nhiều địa phương. Để tháo gỡ những vướng mắc này, cơ quan quản lý Nhà nước sẽ luôn đồng hành với các địa phương có Di sản và cộng đồng chủ thể thực hành Di sản, kiên quyết xử lý vi phạm đối với các hành vi lợi dụng Di sản để trục lợi, kiếm tiền; cố tình thay đổi hình thức diễn xướng và các yếu tố liên quan…
Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế kể trên trong hoạt động thờ Mẫu còn nhiều, có cả khách quan và chủ quan. Trước hết do đặc tính tín ngưỡng thờ Mẫu không có tổ chức thống nhất, là tín ngưỡng dân gian truyền miệng, ở trình độ phát triển khác nhau, chưa có quy định, khuôn mẫu cố định, luật lệ, lễ nghi chưa có sự thống nhất. Ranh giới giữa văn hóa và mê tín trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu rất mong manh, tiềm ẩn nguy cơ biến tướng, tính thương mại, trục lợi trong hoạt động khó xử lý… từ đó gây tổn hại cho di sản. Người thực hành tín ngưỡng thường được truyền nghề, học hỏi từ những người thầy (đồng thầy) khác nhau của mỗi đền phủ; do nhận thức mỗi người tham gia thực hành khác nhau, địa phương văn hóa vùng miền khác nhau; luật pháp còn chưa quy định cụ thể và cơ quan quản lý chưa thực hiện hết chức trách nhiệm vụ được giao… Phương cách để hạn chế những điều này là tăng cường công tác giáo dục để mọi người hiểu và trân trọng di sản Tín ngưỡng của ta, đồng thời tăng cường hiệu lực các chế tài, quy định quản lý văn hóa, lễ hội, quản lý đền, phủ…
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý văn hóa ở đây rất lớn, đặc biệt là ở cấp địa phương cơ sở, nhưng còn là trách nhiệm của cộng đồng- những người trực tiếp thực hành tín ngưỡng, của mỗi người trong xã hội chúng ta, của cả truyền thông báo chí. Chúng ta hãy cùng ca ngợi những điều tốt và lên án những hành vi làm biến dạng, trục lợi từ di sản.
3. Một số vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước
Tín ngưỡng thờ Mẫu là nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc, thể hiện truyền thống tương thân, tương ái. Hoạt động diễn xướng thực hành nghi lễ giàu tính nhân văn, tích hợp nhiều loại hình nghệ thuật dân gian có giá trị và ý nghĩa quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt.
Sau một thời gian hoạt động trầm lắng thì nay tín ngưỡng thờ Mẫu phục hồi và phát triển mạnh mẽ, nhiều cơ sở thờ Mẫu tu sửa, tôn tạo và mở rộng quy mô hoạt động thu hút sự tham gia của du khách cũng như những người có tín ngưỡng. Sự phục hồi này đã mang lại những giá trị tích cực trong duy trì và phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tuy nhiên cũng để lại nhiều tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến đời sống văn hóa, xã hội. Việc thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu có một số biểu hiện lệch chuẩn từ trang phục, đạo cụ, lời hát hay sự cạnh tranh trong nội bộ thờ Mẫu giữa các thanh đồng, sự cạnh tranh giữa các gánh hát đã làm mất đi sự tôn nghiêm và mất sự linh thiêng trong sinh hoạt tâm linh.
Tín ngưỡng thờ Mẫu là một trong nhiều loại hình tín ngưỡng ở Việt Nam, vì vậy chịu sự điều chỉnh của Luật tín ngưỡng, tôn giáo và một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan như Luật Di sản văn hóa…
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định các hoạt động tín ngưỡng khi thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, tiết kiệm, bảo vệ môi trường. Luật quy định cơ sở tín ngưỡng phải có người đại diện hoặc ban quản lý để chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động diễn ra tại cơ sở tín ngưỡng như đăng ký hoạt động tín ngưỡng; thông báo việc tổ chức lễ hội tín ngưỡng định kỳ; đăng ký tổ chức lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi; quản lý và sử dụng khoản thu đúng mục đích, công khai, minh bạch.
Người đại diện hoặc thành viên ban quản lý cơ sở tín ngưỡng phải là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, có uy tín trong cộng đồng dân cư. Và việc bầu, cử người đại diện hoặc thành viên ban quản lý do Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tín ngưỡng phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp tổ chức để cộng đồng dân cư bầu, cử. Căn cứ vào kết quả bầu, cử, Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản công nhận người đại diện hoặc thành viên ban quản lý trong thời hạn 05 ngày làm việc.
Bên cạnh nội dung mới nêu trên, hoạt động tín ngưỡng còn có một số quy định mới được đánh giá là tiến bộ, phù hợp với xu hướng cải cách hành chính hiện nay như việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng của cơ sở tín ngưỡng phải thực hiện đăng ký chậm nhất là 30 ngày trước ngày bắt đầu hoạt động tín ngưỡng, trừ trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật, các hoạt động tín ngưỡng không có trong văn bản đăng ký đã được chấp thuận thì phải đăng ký bổ sung trước 20 ngày; các lễ hội tín ngưỡng lần đầu, lễ hội tín ngưỡng được khôi phục hoặc lễ hội tín ngưỡng định kỳ nhưng có thay đổi thay vì phải xin phép thì nay chỉ phải đăng ký.
Trong thời gian qua, phía Nhà nước đã đẩy mạnh việc xây dựng chính sách pháp luật điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo (Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Di sản Văn hóa và các văn bản pháp luật liên quan). Đến nay, bên cạnh các văn bản quy định chung như các văn kiện của Đảng, Hiến pháp… Nhà nước ta đã có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về hoạt động tín ngưỡng, trong đó có tín ngưỡng thờ Mẫu, gồm:
– Luật tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định 162/2017/NĐ- CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo;
– Nghị định số 103/2009/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2009 quy định về Quy chế hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng;
– Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa và quảng cáo.
– Một số văn bản pháp luật khác như: Luật xử phạt vi phạm hành chính, Bộ Luật Hình sự, Luật Đất đai, Luật Xây dựng…
– Nghị định mới nhất về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo là Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Nghị định này quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định 124/2025/NĐ-CP thay thế một số quy định tại Nghị định số 162/2017/NĐ-CP và có những điểm mới liên quan đến quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo).
– Luật Di sản văn hóa mới nhất là Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 23/11/2024 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2025 (Luật này thay thế Luật Di sản văn hóa năm 2001 và quy định về quản lý, bảo vệ, và phát huy giá trị di sản văn hóa).
Đối với hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu, đến nay chưa có văn bản pháp luật quy định riêng mà vẫn áp dụng các quy định pháp luật chung về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy vậy, thờ Mẫu cũng đã có những quy định cụ thể và chế tài xử lý đối với hoạt động hầu đồng như: Thông tư số 04/2009/TT – BVHTTDL ngày 16/12/2009 Quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Quy chế hoạt động văn hoá và kinh doanh dịch vụ văn hoá công cộng; Ngoài ra có Bộ Luật Hình sự, Điều 320. Tội hành nghề mê tín, dị đoan Người nào dùng bói toán, đồng bóng hoặc các hình thức mê tín, dị đoan khác đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Dưới góc độ quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, thờ Mẫu là nhu cầu chính đáng của một bộ phận quần chúng nhân dân, cần được điều chỉnh bằng pháp luật để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, đồng thời hạn chế việc lợi dụng thờ Mẫu để thực hiện các hoạt động mê tín, trục lợi ảnh hưởng xấu tới an ninh trật tự cộng đồng, kinh tế, sức khỏe của người dân.
4. Một số khuyến nghị công tác trong thời gian tới
Các cơ quan chức năng liên quan cần tiếp tục nghiên cứu, nhận diện để đánh giá đúng các hoạt động của việc thờ Mẫu. Ghi nhận, khẳng định, phát huy các giá tốt đẹp của tín ngưỡng thờ Mẫu cũng cần ngăn chặn, làm rõ yếu tố tiêu cực, biến tướng di sản, mê tín dị đoan trong nghi thức thờ Mẫu.
Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bằng việc bổ sung các nội dung điều chỉnh cụ thể về một số hoạt động thờ Mẫu, trong đó có việc xây dựng quy định chế tài, biện pháp xử lý nghiêm minh. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến chính sách pháp luật liên quan cho cán bộ công chức và người thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Cần làm cho mọi người dân và người thực hành thờ Mẫu hiểu được giá trị tích cực của thờ Mẫu và mặt trái của nó, từ đó có ý thức đấu tranh, tẩy chay cái xấu, phát huy cái tốt.
Các cơ quan chức năng tăng cường thực hiện công tác hướng dẫn, tổ chức thực hiện chính sách pháp luật, thành kiểm tra, giải quyết các khó khăn vướng mắc trong hoạt động thờ Mẫu. Kiện toàn Ban Quản lý, người đại diện các cơ sở thờ Mẫu, nâng cao vai trò trách nhiệm của các thủ nhang, đồng đền, thanh đồng. Tăng cường trách nhiệm của các các cấp, các ngành trong việc quản lý đối với các hoạt động thờ Mẫu.
Tạo điều kiện để cộng động thờ Mẫu phát huy vai trò chủ thể của di sản, bầu chọn người có uy tín đại diện cho cộng đồng làm đầu mối liên lạc với chính quyền. Hướng dẫn cộng đồng thờ Mẫu đề xuất mô hình tổ chức phù hợp để tập hợp các người thực hành thờ Mẫu có tổ chức chung, sau đó thống nhất xây dựng quy chế, nội quy hoạt động để phát huy, bảo tồn những giá trị văn hóa trong thờ Mẫu.
Dân tộc Việt Nam ta vốn có truyền thống văn hiến lâu đời, trong đó có sự đóng góp của tín ngưỡng, tôn giáo. Thờ Mẫu với sức sống lâu bền, những nét văn hóa độc đáo đã được ghi danh là một di sản văn hóa phi vật thể cần được giữ gìn, bảo vệ và phát huy lan tỏa. Vấn đề này cần có sự chung tay vào cuộc của hệ thống chính trị, các tổ chức và cá nhân thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu với mục tiêu chung đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phù hợp với lợi ích của dân tộc, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu chung“Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.



